vanban.org

Bản án 296/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hồng N. Cho chị Nguyễn Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Hồng N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 296/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/12/2024
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TRUNG TÍNH

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông HUỲNH VĂN DŨNG

2. Ông TRẦN TRUNG NHÂN

- Thư ký phiên Tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 453/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 177/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị NGUYỄN HỒNG N, sinh năm 1996

Địa chỉ: ấp 1, xã ATT, huyện CB, tỉnh TG.

*Bị đơn: Anh NGUYỄN HỒNG N, sinh năm 1991

Địa chỉ: ấp 1, xã ATT, huyện CB, tỉnh TG.

(Chị N và anh N vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, phía nguyên đơn chị Nguyễn Hồng N trình bày:

Chị và anh N xác lập quan hệ vợ chồng năm 2017, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc được vài năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau, anh N hay nhậu nhẹt, cờ bạc, mâu thuẫn trong chi tiêu sinh hoạt kinh tế trong gia đình, vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay chị xin ly hôn anh N.

+ Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/01/2018 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2020, khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung, chị không yêu cầu anh Nhật cấp dưỡng.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Hồng N đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh không cung cấp ý kiến đối với vụ kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

+ Chị Nguyễn Hồng N có đơn xin giải quyết xét xử vắng mặt, căn cứ điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị là phù hợp theo quy định của pháp luật.

+ Anh Nguyễn Hồng N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh vắng mặt không lý do, căn cứ điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh là phù hợp theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân : Chị N và anh N xác lập quan hệ vợ chồng năm 2017, có đăng ký kết hôn, sau khi cưới về sống hạnh phúc được vài năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị là do vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau, anh N hay nhậu nhẹt, cờ bạc, mâu thuẫn trong chi tiêu sinh hoạt kinh tế trong gia đình, vợ chồng hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không thành nên đã ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay. Nay chị xin ly hôn anh N. Còn anh N vắng mặt không lý do, mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần thông báo về việc chị N xin ly hôn nhưng anh không cung cấp ý kiến lời khai đối với vụ kiện, chứng tỏ anh không còn quan tâm đến mối quan hệ vợ chồng giữa anh và chị N, đồng thời xem như anh tự từ bỏ quyền bảo vệ quyền và ích lợi hợp pháp của mình. Nhận thấy tình cảm của anh, chị đã thật sự tan vỡ, hai bên đã phát sinh mâu thuẫn kéo dài và ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay nhưng không hàn gắn đoàn tụ lại được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị, cho chị N được ly hôn anh Nhật là phù hợp theo điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/01/2018 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2020. Phía chị N có ý kiến yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung sau khi ly hôn. Xét thấy từ khi ly thân 02 con chung do chị N nuôi dưỡng đã ổn định và chị N chăm sóc con chung phát triển tốt. Do vậy, hội đồng xét xử xét thấy để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý của 02 con chung và ổn định cuộc sống của 02 cháu nên tiếp tục giao 02 con chung cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp theo điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không có ý kiến và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử: 1/ Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hồng N.

Cho chị Nguyễn Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Hồng N.

2/ Về con chung:

- Tiếp tục giao 02 con chung cháu Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/01/2018 và Nguyễn Đức T, sinh ngày 11/11/2020 cho chị Ngọc nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Hồng N không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung.

Anh Nguyễn Hồng N được quyền thăm nom 02 con chung theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở. 3/ Về án phí:

Chị Nguyễn Hồng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015784 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CB nên xem như chị đã thi hành xong và không phải nộp tiếp.

Về quyền kháng cáo: Chị N và anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi Tòa án tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ