vanban.org

Bản án 296/2024/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 05/08/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/08/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Hồng N.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hồng N về việc buộc ông Nguyễn Hồng K bồi thường thiệt hại tài sản cho bà N số tiền 6.400.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Trần Hồng N- Nguyễn Hồng K"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Hồng N.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 296/2024/DS-PT
Ngày 05 – 8 – 2024
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài
sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Ông Ninh Quang Thế
Mau.
Thanh Thuỳ – Kiểm sát viên.
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 152/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 6
năm 2024 về việc: Tranh chấp bồi thường thiệt hại về tài sản.
của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.
tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Hồng N, sinh năm 1967 (Có mặt);
Mau.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng K (Vắng mặt);
- Người kháng cáo: Bà Trần Hồng N, là nguyên đơn.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo bà Trần Hồng N trình bày:

Vào khoảng tháng 10/2023, do âm ly bị lỗi loa âm lượng bên to, bên nhỏ nên bà N có đem âm ly đến ông Nguyễn Hồng K là thợ sửa chửa điện tử để sửa. Sau khi sửa chữa âm ly vẫn bị lỗi, ông K đem âm ly về sửa nhiều lần, đến lần thứ ba ông K giao âm ly cho bà N sử dụng vài giờ thì bị cháy dẫn đến không sử dụng được nữa. Bà đã thỏa thuận bồi thường với ông K nhiều lần nhưng không thoả thuận được. Sau khi âm ly bị cháy, nên bà phải mua âm ly mới với giá 8.000.000 đồng. Nay bà N khởi kiện yêu cầu ông K phải bồi thường thiệt hại cho bà N tương đương với 80% giá trị âm ly mới bà N đã mua bằng 6.400.000 đồng.

- Theo ông Nguyễn Hồng K trình bày:

Ông K có nhận sửa âm ly cho bà N, khi sửa xong giao cho bà N sử dụng 15 ngày, sau đó không sử dụng được bà N mới đem đến thợ khác sửa mà không đem lại cho ông kiểm tra. Ông K cho rằng yêu cầu của bà N là không có cơ sở, nên ông không đồng ý theo yêu cầu của bà N.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau quyết định:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hồng N về việc buộc ông Nguyễn Hồng K phải bồi thường số tiền 6.400.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 12/4/2024, bà Trần Hồng N có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Hồng N giữ nguyên kháng cáo.

Phần tranh luận tại phiên toà: Bà N không có ý kiến tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo bà Trần Hồng N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bà Trần Hồng N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Việc bà N thuê ông Nguyễn Hồng K1 sửa chửa âm ly, việc âm ly của bà N bị cháy là có thực tế xảy ra. Tuy nhiên, khi âm ly bị cháy bà N không có trình báo với chính quyền địa phương lập biên bản sự việc để xác định thời gian cụ thể âm bị cháy. Nay bà N cho rằng sau khi ông K giao âm ly cho bà sử dụng khỏang 02 đến 03 giờ thì âm ly bị cháy; còn ông K cho rằng ông giao âm ly cho bà N sử dụng đến 15 ngày sau bà N mới nói âm ly bị cháy. Do đó, chưa có cơ sở để xác định thời gian từ khi ông K giao âm ly cho bà N đến khi âm ly bị cháy là bao lâu.

Sau khi âm ly bị cháy, đến nay cũng chưa có cơ quan chuyên môn giám định để kết luận nguyên nhân âm ly bị cháy. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã có giải thích việc giám định nhưng bà N cũng không yêu cầu giám định. Do đó, chưa có cơ sở để xác định nguyên nhân âm ly bị cháy là do ông K sửa chữa, thay các thiết bị của âm ly hay do nguyên nhân nào khác.

Bà N cho rằng sau khi âm ly bị cháy, bà N có đem âm ly đến cơ sở Huỳnh M để kiểm tra thì nhân viên ở đây nói âm ly đã bị thay hết các thiết bị, nhưng cũng không có tài liệu gì chứng minh, cũng không có kết luận của cơ quan chuyên môn xác định âm ly đã bị thay các thiết bị bên trong của âm ly như bà N trình bày.

Ngoài ra, bà N cho rằng thời gian từ khi bà N mua âm ly đến khi bị cháy khoảng 05 năm, nhưng không cung cấp được giấy tờ mua bán để xác định thời gian mua, nên việc bà N xác định giá trị sử dụng của âm ly còn lại 80% để yêu cầu ông K bồi thường bằng số tiền 6.400.000 đồng là chưa có cơ sở.

Từ nhận định trên, xét thấy bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N đối với ông K là có căn cứ. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo bà N, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Hồng N chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu án phí.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Hồng N.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 43/2024/DS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Hồng N về việc buộc ông Nguyễn Hồng K bồi thường thiệt hại tài sản cho bà N số tiền 6.400.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu 320.000 đồng. Ngày 26/12/2023, bà N đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007853 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, đối trừ bà N còn phải nộp tiếp 20.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Hồng N phải chịu 300.000 đồng. Ngày 12/4/2024, bà N đã dự dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008404 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ chuyển thu án phí. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ