- Tranh chấp gì? án hình sự — "T Q H và đồng phạm Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T Q H, đại diện hợp pháp của bị cáo Huy là ông Tạ M C; không chấp nhận kháng cáo của cháu Đỗ Đ A và đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh là bà Lê T N A. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HSST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân quận Bắc …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 296/2023/HS-PT Ngày: 04/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Ngọc Huân
Ông Hoàng Nhật Tân
- Thư ký phiên toà:
Ông Hoàng Nghĩa Hải – Thư ký Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 171/2023/TLPT – HS ngày 22 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H do có kháng cáo của bị cáo T Q H, đại diện hợp pháp của bị cáo Huy và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về phần dân sự đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HSST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/QĐXXPT- HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
1. T Q H, sinh ngày 02/12/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 14 ngày); ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ 12 (tổ 18 cũ) L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ M C và bà N T T; vợ, con: Chưa; danh bản, chỉ bản số 174 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
2. T Q K, sinh ngày 02/10/2003; ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ 12 (tổ 18 cũ) L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ M C và bà N T T; vợ, con: Chưa; danh bản, chỉ bản số 173 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
3. N T A, sinh ngày 20/8/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 27 ngày); ĐKHKTT: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; nơi cư trú: Số 69, ngõ 2/6 phố Đ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T T và bà Sỹ T H; danh bản, chỉ bản số 169 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
4. P N K, sinh ngày 04/9/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 02 tháng 12 ngày); ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ 7 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm H N và bà N T V A; danh bản, chỉ bản số 168 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
5. B H G, sinh ngày 19/11/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 11 tháng 28 ngày); ĐKHKTT và cư trú: Tổ 11A phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông B V B và bà L T M H; danh bản, chỉ bản số 172 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
6. V P Đ, sinh ngày 19/2/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 8 tháng 28 ngày); ĐKHKTT: Số 36 S, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Số 10 ngõ G, phường G, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông V V L và bà L T K A; danh bản, chỉ bản số 166 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
7. N Q H, sinh ngày 26/2/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 8 tháng 21 ngày); ĐKHKTT và cư trú: Số 432 đường B, phường V, quận B, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông N A T và bà N T K A; danh bản, chỉ bản số 170 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
8. H N K, sinh ngày 02/9/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 2 tháng 14 ngày); ĐKHKTT: Thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Số 25 ngõ 35 Đ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông H V T và bà T T H V; danh bản, chỉ bản số 167 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
9. T T H, sinh ngày 10/11/2004 (đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 06 ngày); ĐKHKTT và cư trú: Tổ 17, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T M T và bà N N B; danh bản, chỉ bản số 171 lập ngày 10/5/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo T Q H, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Tạ M C, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ 12 Linh Đam, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội - là bố đẻ bị cáo; có mặt;
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo P N K, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà N T V A, sinh năm 1976; Địa chỉ: Tổ 7 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội - là mẹ đẻ bị cáo; có mặt;
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo V P Đ, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà L T K A, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số 10 G, phường G, quận H, Thành phố Hà Nội - là mẹ đẻ bị cáo; có mặt;
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo N T A, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Sỹ T H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số 69 ngõ 216 Đại Từ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội - là mẹ đẻ bị cáo; có mặt;
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo N Q H, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà N T K A, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số 432 đường B, phường V, quận B, Thành phố Hà Nội- là mẹ đẻ bị cáo; có mặt;
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo H N K, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà T T H V, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số 25, ngõ 35, Đ, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội - là mẹ đẻ bị cáo; có mặt;
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo T T H, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông T M T, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ 17 phường T, quận H, Thành phố Hà Nội - là bố đẻ bị cáo; có mặt;
*Người đại diện hợp pháp của bị cáo B H G, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông B V B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Tổ 11A phường H, quận H, Thành phố Hà Nội - là bố đẻ bị cáo; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo T Q H: Luật sư Nguyễn A T – Văn phòng luật sư Nguyễn Anh, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội và Luật sư P T D Q – Công ty luật TNHH Quốc tế Thái Bình, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Các luật sư có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H: Luật sư Đinh Thị Kim Liên – Công ty luật TNHH Quốc tế Thái Bình, đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- Cháu Đỗ Đ A, sinh ngày 07/8/2004; Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đ A đồng thời cũng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê T N A, sinh năm 1977; cùng địa chỉ: Số 28, ngõ 155, Tổ dân phố Trung 3, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.
- Công ty Cổ phần TV - UDIC, Địa chỉ: Tầng 2, số 14, ngõ 218/44 L, phường B, quận T, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh D M T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Chung cư C2, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa
.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/11/2021, bà Lê T N A đến Công an quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội tố giác về việc con trai bà là Đỗ Đ A bị một nhóm thanh niên cầm giáo đuổi chém, dẫn đến bị tai nạn giao thông vào khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày tại phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Sau khi tiếp nhận tố giác, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm xác định các đối tượng T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, Hồ Nhật Khánh, N Q H và T T H đã gây ra vụ án trên.
Quá trình điều tra xác định: T Q H và Nguyễn Quang Hải, sinh năm 2004; hộ khẩu thường trú: Phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội có mâu thuẫn với nhau từ trước qua mạng xã hội Facebook. Ngày 15/11/2021 Huy nhắn tin cho Hải, hẹn ngày 16/11/2021 sẽ gặp nhau tại trước cửa hàng Circle-K khu vực phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội để giải quyết mâu thuẫn. Do nghĩ Hải sẽ gọi thêm người đi cùng nên Huy nhắn tin cho bạn là V P Đ nói về việc hẹn gặp Hải để giải quyết mâu thuẫn rồi hẹn Đại hôm sau ra quán trà chanh T-More ở khu đô thị Linh Đàm, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội để bàn bạc. Đại đồng ý và tiếp tục gọi điện rủ bạn là P N K cùng đi. Khánh đồng ý.
Khoảng 12 giờ ngày 16/11/2021, P N K điều khiển xe máy Honda Wave alpha, biển kiểm soát: 29H2-27836 đến nhà V P Đ để cùng đến quán trà chanh T-More. Lúc này Nam Khánh gọi điện thoại rủ thêm bạn là N T A và H N K ra quán trà chanh để uống nước. Khanh rủ N Q H đi cùng. Sau đó Đại điều khiển xe máy Honda Wave alpha, biển kiểm soát: 29H2-27836, còn Nam Khánh điều khiển xe máy Honda Wave 110, biển kiểm soát: 29B1-98942 của Đại đến đón N T A. Khi Đại, Nam Khánh và Tống Anh đến quán trà chanh thì gặp T Q H đang đợi ở đây, một lát sau N Q H điều khiển xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 29B2-08054 lai Nhật Khanh đến (tất cả đều không có giấy phép lái xe). Tại đây, T Q H rủ cả nhóm đi giải quyết hộ mâu thuẫn với Hải. Cả nhóm đồng ý, T Q H gọi điện thoại cho anh trai là T Q K rủ cùng đi giải quyết mâu thuẫn với Hải. T Q K đồng ý và gọi điện thoại rủ thêm B H G và T T H cùng đi giải quyết mâu thuẫn hộ T Q H.
Sau khi cả nhóm bàn bạc xong, P N K điều khiển xe máy biển kiểm soát: 29B1 - 98942 lai T Q H đi đến khu vực công viên Hòa Bình, thuộc địa phận quận Bắc Từ Liêm trước. V P Đ điều khiển xe máy biển kiểm soát: 29H2-27836 lai N T A; N Q H điều khiển xe máy biển kiểm soát 29B2-08054 lai H N K đến sau. B H G điều khiển xe máy Honda Wave RSX, biển kiểm soát 29H2-05061 đến đón rồi lai T T H và T Q K đến địa điểm hẹn với T Q H. Trên đường đi, T Q H bảo Nam Khánh chở đến khu vực công viên Linh Đàm rồi một mình Huy đi vào lấy 03 cây giáo bằng tuýp sắt dài khoảng 1,5 m - 02 m, ở đầu giáo có gắn dao nhọn (loại dao bầu) mang theo. Khoảng gần 14 giờ cùng ngày, T Q H và Nam Khánh đến đoạn đường đối diện cổng Công viên Hòa Bình thuộc phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm trước. T Q H giấu 03 cây giáo mang theo vào bụi cây ven đường để tránh bị chú ý. Một lát sau, khi cả nhóm đến đủ, T Q H gọi điện thoại cho Hải để hẹn gặp thì Hải trả lời đang ở khu vực đường Nguyễn Văn Huyên kéo dài thuộc phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Nghe vậy, Quốc Huy, Quốc Khánh và Tống Anh mỗi người đến lấy 01 cây giáo cầm trên tay rồi cả nhóm lên xe máy đi trước đến đường Hoàng Minh Thảo trong khu Ngoại Giao Đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội để tìm nhóm của Hải. Nhóm của Quốc Huy đi lòng vòng trong khu Ngoại Giao Đoàn 02 vòng nhưng không tìm thấy Hải nên quay lại vị trí ban đầu. Quốc Huy, Quốc Khánh và Tống Anh cất 03 cây giáo vào lại bụi cây. Sau đó Quốc Huy điều khiển xe máy biển kiểm soát: 29H2-27836 chở Tống Anh quay lại khu Ngoại Giao Đoàn tiếp tục tìm Hải. Khi Quốc Huy và Tống Anh đi trên đoạn đường đối điện chung cư 789 trong khu Ngoại Giao Đoàn thì Quốc Huy phát hiện một nhóm thanh niên (không xác định được nhân thân lai lịch) có khoảng 20 người đi trên khoảng hơn 10 chiếc xe máy, trong đó có 01 nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân lai lịch) sử dụng tài khoản Facebook là “Vũ Duy Anh” là bạn qua mạng xã hội Facebook với Nguyễn Quang Hải. Quốc Huy nghĩ nhóm thanh niên này được Hải rủ đến để cùng giải quyết mâu thuẫn với mình nên chở Tống Anh quay lại khu vực đối diện cổng công viên Hòa Bình báo với cả nhóm là đã tìm thấy nhóm của Hải. Sau đó Quốc Huy, Quốc Khánh và Tống Anh đi vào bụi cây mỗi người cầm 01 cây giáo ra ngồi phía sau xe máy. Nam Khánh chở Quốc Huy đi trước; B H G chở T T H và T Q K; V P Đ chở Tống Anh, còn Quang Huy chở Nhật Khanh đi theo sau. Cả nhóm rồ ga, phóng nhanh từ khu vực đối diện cổng công viên Hòa Bình lao đến khu Ngoại Giao Đoàn để tìm nhóm thanh niên trên. Khi đến khu vực đèn tín hiệu giao thông cuối đường Hoàng Minh Thảo, cả nhóm phóng vượt qua đi vào làn đường ngược chiều, rồi phóng tiếp vào làn đường dành cho xe máy. Lúc này nhóm Quốc Huy phát hiện nhóm thanh niên trên đang đứng ở lề đường Hoàng Minh Thảo liền rồ ga phóng đến, vừa đi vừa hò hét, chửi bới. Nhóm thanh niên trên thấy nhóm của Quốc Huy phóng xe đến, trong đó có người cầm giáo nhọn, hò hét, chửi bới thì có một số người cầm gạch ném về phía nhóm của Quốc Huy nhưng không trúng ai. Sau đó nhóm thanh niên này lên xe máy bỏ chạy theo hướng ngược lại, nhóm của Quốc Huy cũng phóng xe máy đuổi theo. Lúc này anh Đỗ Mạnh Tú đang điều khiển xe máy Honda Vision màu xanh, biển kiểm soát: 29E2-50950 lai Đỗ Đ A đi trên đường Hoàng Minh Thảo thấy nhóm của Quốc Huy phóng xe, cầm giáo lao đến, anh Tú sợ bị chém nên đã quay đầu xe máy bỏ chạy ngược chiều, khi xe máy chạy đến ngã ba đường Hoàng Minh Thảo và đường vào khu chung cư N01-T2 thì va chạm với xe ô tô nhãn hiệu Kia Sedona màu trắng, biển kiểm soát 30F-41421 do anh D M T điều khiển (đi ngược chiều với xe máy của Mạnh Tú) làm Mạnh Tú và Đức Anh bị đổ xe máy, ngã ra đường. Lúc này Quang Huy điều khiển xe máy chở Nhật Khanh đuổi phía sau cũng bị ngã theo. Thấy xảy ra tai nạn, Nhật Khanh lai Quốc Huy đi ra đường Nguyễn Văn Huyên hướng đi Cầu Giấy để Quốc Huy vứt cây giáo đang cầm vào bãi cỏ bên đường rồi cả hai quay lại xem vụ tai nạn. Thấy có đông người đứng xem nên Nhật Khanh chở Quốc Huy bỏ về nhà. Còn B H G lai T T H và Quốc Khánh nhìn thấy Mạnh Tú và Đức Anh bị ngã thì quay xe bỏ chạy về vị trí đứng đợi ban đầu. Tại đây Quốc Khánh vứt cây giáo vào bụi cây rồi cả ba bỏ về nhà. Trong lúc đó, Đại chở Tống Anh và Nhật Khanh vừa bị ngã xe máy quay lại đoạn đối diện cổng công viên Hòa Bình để Tống Anh vứt cây giáo vào bụi cây. Sau khi bị ngã, Quang Huy dựng xe máy dậy rồi đi về công viên Hòa Bình thì gặp Nhật Khanh cùng Đại và Tống Anh. Sau đó Quang Huy chở Nhật Khanh; Đại chở Tống Anh đi về nhà. Đỗ Mạnh Tú và Đỗ Đ A sau khi va chạm với xe ô tô do sợ bị đánh nên Mạnh Tú bỏ về trước, còn Đức Anh bị thương tích được gia đình đến đưa vào Bệnh viện E cấp cứu và trình báo Công an.
Cơ quan điều tra đã rà soát tìm vật chứng mà nhóm của T Q H sử dụng nhưng không thu giữ được.
Tại cơ quan điều tra, T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, Hồ Nhật Khánh, N Q H, T T H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Quốc Huy khai quen biết Duy Anh sử dụng tài khoản Facebook tên “Vu Duy Anh” là bạn của Hải ở trên Facebook. Huy không biết Duy Anh là ai, ở đâu, chưa gặp lần nào.
Đỗ Đ A và Đỗ Mạnh Tú khai: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/11/2021, Tú điểu khiển xe máy Honda Vision BKS 29E2-509.50 lai Đức Anh đi cắt tóc về thì gặp bạn là Nguyễn Tiến Xuân (sinh năm 2004 ở phường X, quận B, Hà Nội) và Lưu Quốc Trung (sinh năm 2004 ở Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội) nên đi cùng nhau. Khi cả nhóm đi đến khu vực Công viên Hòa Bình thì gặp 01 nhóm thanh niên đi trên 03 xe máy, mỗi xe mang theo 01 ống hàn tuýp sắt, đầu gắn dao bầu đuổi theo nên Mạnh Tú quay đầu xe máy bỏ chạy về đường Võ Chí Công. Khi đến khu vực ngã ba nút giao giữa tòa N01T2 Ngoại Giao Đoàn với đường ĐT1, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm thì xe máy của Mạnh Tú lai Đức Anh va chạm với 01 xe ô tô màu trắng, khiến Mạnh Tú và Đức Anh ngã ra đường, Đức Anh bị chảy máu vùng miệng, còn Mạnh Tú bị xước tay chân. Mạnh Tú đi nhờ xe của 01 người qua đường về nhà. Lúc này hai bạn là Xuân và Trung đi đâu không rõ, còn nhóm thanh niên đuổi theo Mạnh Tú có 01 xe máy cũng ngã ra đường, sau đó cả nhóm bỏ về. Mạnh Tú, Đức Anh và nhóm thanh niên không quen biết và mâu thuẫn gì.
Anh D M T khai: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 16/11/2021, anh điều khiển xe ô tô Kia Sedona màu trắng, biển kiểm soát 30F-414.21 từ tòa nhà N01T2 Ngoại Giao Đoàn, thuộc phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội ra khu đô thị Tây Hồ để làm việc. Khi đi đến khu vực N01T2 trên đường ĐT1 thì thấy 02 nhóm khoảng hơn 10 thanh niên đi trên 6-7 xe máy đuổi chém nhau, va chạm với xe ô tô của anh. Sau đó 01 nhóm người ngã ra đường và bị nhóm phía sau đuổi chém. Trong nhóm bị ngã xuống đường có 01 thanh niên chảy máu vùng miệng, tay, chân. Ngoài ra còn một số thanh niên bị ngã nhưng đã đứng dậy và bỏ chạy. Nhóm thanh niên đuổi chém cũng di chuyển đi nơi khác, bỏ lại thanh niên chảy nhiều máu ở miệng.
Tại biên bản xác định thương tích ban đầu của Đỗ Đ A tại Bệnh viện E ngày 19/11/2021, xác định: Bị chấn thương ngực, tràn dịch màng phổi, vết thương rách, phức tạp. Môi dưới và cằm gãy hoàn toàn răng 11, gãy 1/3 thân răng 21, gãy cổ lồi cầu cao xương hàm dưới phải, chân trái nhiều vết thương xây xát.
Ngày 23/12/2021 Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với Đỗ Đ A.
Ngày 28/01/2022 Trung tâm pháp y Hà Nội có Kết luận giám định số 132/TTPY về thương tích của Đỗ Đ A:
1. Các sẹo vết thương, vết mổ, vết sây sát: 12%;
2. Gãy ngành trên xương hàm dưới còn phương tiện kết hợp xương: 08%;
3. Mất răng R11: 02%;
4. Gãy 1/3 thân răng R21: 01%;
5. Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương xương hàm dưới. Đề nghị giám định bổ sung sau khi tháo phương tiện kết hợp xương.
6. Cơ chế hình thành thương tích: Do va đập với vật tày, tày có cạnh gây nên.
Tỷ lệ tổn hại sức khỏe: 21% (Hai mươi mốt phần trăm). Tính theo phương pháp cộng lùi.
Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của cháu Đỗ Đ A nhưng anh Anh từ chối không giám định bổ sung.
Ngày 04/5/2022 Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản. Ngày 08/6/2022 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận Bắc Từ Liêm kết luận:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh, biển kiểm soát 29E2 - 509.50, số khung: 583XKY474881, số máy: JF86E0174804 va chạm, hư hỏng ngày 16/11/2021 bị thiệt hại trị giá là: 12.250.000 đồng (mười hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Sedona màu trắng, biển kiểm soát 30F-414.21, số khung: 52A8JC137377, số máy: D4HBJH898414 va chạm, hư hỏng ngày 16/11/2021 bị thiệt hại trị giá là: 46.249.200 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn hai trăm đồng).
Ngày 18/12/2021 Ủy ban nhân dân phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm có công văn đề nghị Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm giải quyết vụ việc. Ngày 25/11/2021 Công an phường Xuân Tảo báo cáo nội dung sự việc, xác định vụ việc gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh địa phương, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người tham gia giao thông.
Đối với Nguyễn Quang Hải: Hải khai có mâu thuẫn với T Q H trên mạng xã hội Facebook và hẹn gặp nhau tại Công viên Hòa Bình để giải quyết mâu thuẫn. Hải có kể với tài khoản Facebook “Vũ Duy Anh” về việc mâu thuẫn với Huy. Tuy nhiên ngày 16/11/2021 Hải không đến Công viên Hòa Bình như đã hẹn, do Hải có quyết định cách ly đối với người đi từ vùng dịch Covid-19 từ ngày 14/11/2021 đến ngày 20/11/2021 tại địa chỉ số nhà 40 ngõ 245 đường Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang. Xác định Nguyễn Quang Hải không tham gia vào sự việc Gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ xử lý.
Đối với “Vũ Duy Anh”: Nguyễn Quang Hải khai chỉ quen biết Vũ Duy Anh trên Facebook, kiểm tra tài khoản Facebook hiện đã khóa. Đỗ Đ A và Đỗ Mạnh Tú không quen biết Vũ Duy Anh, không biết nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Về dân sự: Cháu Đỗ Đ A yêu cầu bồi thường số tiền là: 216.606.000 đồng (hai trăm mười sáu triệu sáu trăm linh sáu nghìn đồng). Trong đó:
Tiền viện phí và mua thuốc theo 08 hóa đơn: 44.356.000 đồng;
Tiền sửa chữa xe máy: 12.250.000 đồng;
Tiền mua thuốc không có hóa đơn: 5.000.000 đồng;
Tiền bồi thường tổn thất sức khỏe, tinh thần: 150.000.000 đồng;
Chi phí đi lại và chăm sóc bệnh nhân: 5.000.000 đồng.
Anh D M T (người được Công ty Cổ phần TV - UDIC ủy quyền), yêu cầu bồi thường tiền sửa chữa xe ô tô là: 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng), có hóa đơn.
Đối với các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ của: Đỗ Mạnh Tú, T Q H, P N K, V P Đ, N Q H và B H G. Ngày 06/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều 21 và điểm a khoản 5 Điều 6 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ.
Đối với 04 xe máy các bị cáo sử dụng đi Gây rối trật tự công cộng, qua xác minh, xác định:
- Xe máy Honda wave màu xanh đen, biển kiểm soát 29B1-98942: Do ông Vũ Phúc Lưu mua và đăng ký tên con trai là V P Đ, tuy nhiên việc quản lý, sử dụng xe là do ông Lưu quyết định. Ngày 16/11/2021 ông Lưu không giao xe cho Đại, không biết Đại lấy xe đi đâu, làm gì.
- Xe máy Honda wave màu xanh đen, biển kiểm soát 29B2-080.54 đăng ký mang tên bà N T K A (mẹ của N Q H). Ngày 16/11/2021 bà Anh để xe ở nhà, không giao xe cho Huy, không biết Huy lấy xe đi đâu, làm gì.
- Xe máy Honda wave, biển kiểm soát 29H2-050.61 đăng ký chủ sở hữu là anh Bùi Ngọc Sơn (anh trai B H G). Ngày 16/11/2021 anh Sơn để xe ở nhà, không giao xe cho Giang, không biết Giang lấy xe đi đâu, làm gì.
- Xe máy Honda wave, biển kiểm soát 29H2-278.36 đăng ký chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Đình. Bà Đình gửi xe ở nhà H N K, không biết Khanh lấy xe đi đâu, làm gì.
- Xe máy Honda Vision, biển kiểm soát 29E2-509.50 là của bà Lê T N A. Bà Ánh không giao xe cho Đức Anh, không biết Đức Anh lấy xe đi đâu, làm gì.
Do đó, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm không có căn cứ để xử lý đối với ông Lưu, bà Kim Anh, anh Sơn, bà Đình, bà Ngọc Ánh.
Tại Bản cáo trạng số 167/CT-VKSBTL ngày 18/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HSST ngày 16/01/2023 của tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã xử phạt bị cáo T Q H 24 tháng tù, bị cáo T Q K 24 tháng tù treo, bị cáo N T A 22 tháng tù treo, bị cáo P N K 20 tháng tù treo, bị cáo B H G 20 tháng tù treo, V P Đ 20 tháng tù treo, N Q H 18 tháng tù treo, H N K 18 tháng tù treo, T T H 18 tháng tù treo. Buộc các bị cáo liên đời bồi thường cho bị hại Đỗ Đ A 92.896.000 đồng và Công ty cổ phần TV –UDIC số tiền 40.000.000. Phần bồi thường cụ thể của từng bị cáo như sau: Bị cáo T Q H phải bồi thường thiệt hại sức khỏe và thiệt hại tài sản cho anh Đỗ Đ A số tiền là 12.896.000 đồng (mười hai triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) và bồi thường thiệt hại tài sản cho Công ty Cổ phần TV - UDIC số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Cộng là 52.896.000 đồng (năm mươi hai triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng). Số tiền bồi thường cho Công ty Cổ phần TV-UDIC được trừ vào 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo Biên lai thu tiền số 0032945 ngày 14/9/2022. Bị cáo Huy còn phải bồi thường tiếp cho Công ty Cổ phần TV- UDIC số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Các bị cáo T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H phải bồi thường thiệt hại sức khỏe và thiệt hại tài sản cho anh Đỗ Đ A số tiền là 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng). Trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), được trừ vào số tiền mà các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo các Biên lai thu tiền số 0032946 ngày 14/9/2022, số 0032943 ngày 09/9/2022 và các Biên lai thu tiền: số 0032939, số 0032937, số 0032940, số 0032936, số 0032938, số 0032941 cùng ngày 08/9/2022. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án bị kháng cáo như sau: ngày 27/01/2023 bị cáo T Q H và đại diện hợp pháp của bị cáo Huy là ông Tạ M C kháng cáo xin cho bị cáo Huy được hưởng áo treo, ngày 27/01/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Đỗ Đ A và đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đ A là bà Lê T N A kháng cáo đề nghị tăng mức bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Huy và đại diện hợp pháp của bị cáo Huy, đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Đức Anh và đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh nộp trong thời hạn luật định và đúng chủ thể nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huy. Tại phiên tòa, đại diện gia đình các bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 20 triệu đồng, mỗi bị cáo tự nguyện bồi thường thêm số tiền 02 triệu đồng, riêng bị cáo T Q H tự nguyện bồi thường thêm số tiền 04 triệu đồng nên đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của đại diện gia đình các bị cáo. Các nội dung khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bị cáo Huy và đại diện hợp pháp của bị cáo Huy giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đ A là bà Lê Thị Ánh Ngọc đồng ý nhận số tiền 20 triệu đồng tiền các bị cáo bồi thường thêm cho cháu Đức Anh con trai bà.
- Luật sư Nguyễn A T bào chữa cho bị cáo Huy: Về hành vi và điều khoản áp dụng của Tòa án cấp sơ thẩm luật sư không có ý kiến gì khác tuy nhiên trong vụ án có 8 bị cáo được hưởng án treo, bị cáo Huy phạm tội trong độ tuổi chưa thành niên nên mong HĐXX xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm bố bị cáo Huy đã khắc phục hậu quả là hơn 12 triệu đồng, bị cáo Huy đang điều trị bệnh thần kinh nên bị ảnh hưởng. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện ở ngoài chữa bệnh, nếu không có căn cứ cho hưởng án treo thì cũng xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của các bị cáo tự nguyện bồi thường thêm mỗi bị cáo 2 triệu đồng, bị cáo Huy tự nguyện bồi thường 4 triệu đồng, đề nghị HĐXX ghi nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về hình thức:
Đơn kháng cáo của các bị cáo T Q H và đại diện hợp pháp của bị cáo Huy, kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Đỗ Đ A và đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh nộp trong thời hạn luật định và người kháng cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án HĐXX đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 00 ngày 16/11/2021 tại khu vực đường ĐT1, khu Ngoại Giao Đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H điều khiển 04 xe máy mang theo 03 cây giáo bằng tuýp sắt dài khoảng 1,5 m - 02 m, ở đầu giáo có gắn dao bầu nhọn, không đội mũ bảo hiểm đi vào làn đường ngược chiều, vừa đi vừa hò hét, chửi bới, đuổi theo một nhóm thanh niên trong đó có anh Đỗ Mạnh Tú và Đỗ Đ A đang đi xe máy trên đường, làm xe máy do anh Đỗ Mạnh Tú lai Đỗ Đ A va chạm với xe ô tô do anh D M T điều khiển dẫn đến Đỗ Đ A bị ngã xuống đường, bị thương tích, thiệt hại sức khỏe 21%; xe máy của Đỗ Đ A bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 12.250.000 đồng (mười hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); xe ô tô do anh D M T điều khiển bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 46.249.200 đồng (bốn mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn hai trăm đồng). Hành vi của các bị cáo T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H tập trung đông người, đi xe máy đuổi đánh nhau, hò hét gây náo loạn tại đường giao thông, là nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, khiến giao thông khu vực bị gián đoạn nhiều giờ. Quá trình gây rối trật tự công cộng, các bị cáo đã sử dụng 03 cây giáo bằng tuýp sắt dài khoảng 1,5m - 02m, ở đầu giáo có gắn dao bầu nhọn, là hung khí nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung là “Dùng hung khí” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo T Q H.
Bị cáo T Q H là người giữ vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng việc phạm tội; chuẩn bị hung khí đi phạm tội; rủ rê, dẫn dắt các bị cáo khác cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong khi gây rối trật tự công cộng, Huy là người trực tiếp cầm 01 dao phóng lợn ngồi phía sau xe máy vì vậy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Bị cáo Huy không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra truy tố xét xử bị cáo Huy thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T Q H và áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo đã bồi thường xong phần dân sự cho cháu Đức Anh, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp vì vậy HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Huy và đại diện hợp pháp của bị cáo Huy.
Xét kháng cáo tăng mức bồi thường thiệt hại của cháu Đỗ Đ A và bà Lê T N A:
Tòa án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo phải thanh toán cho cháu Đức Anh tiền viện phí, tiền tổn thất tinh thần và tiền sửa xe máy căn cứ vào hóa đơn viện phí và thuốc do gia đình cháu Đức Anh xuất trình; tiền sửa xe máy theo kết quả giám định và tiền bồi thường tổn thất tinh thần bằng 21 tháng lương cơ sở là phù hợp với quy định tại Điều 589, 590 Bộ luật dân sự.
Cháu Đức Anh và đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh yêu cầu bồi thường số tiền mua thuốc (không có hóa đơn) và tiền bồi thường tổn thất sức khỏe, tinh thần: 150.000.000 đồng là không phù hợp với quy định của pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho cháu Đức Anh số tiền là 20.000.000 đồng, trong đó các bị cáo T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H mỗi bị cáo 2.000.000 đồng, bị cáo T Q H 4.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị cáo Huy đã thực hiện xong việc bồi thường dân sự cho cháu Đức Anh. Đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh đồng ý nhận số tiền mà các bị cáo tự nguyện bồi thường. Việc các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo và đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Từ những phân tích trên HĐXX không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo T Q H, đại diện hợp pháp của bị cáo Huy; không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của cháu Đỗ Đ A và đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh. Tuy nhiên cần sửa lại bản án sơ thẩm về áp dụng pháp luật và sửa lại bản án đối với phần trách nhiệm dân sự theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo về bồi thường thiệt hại thêm số tiền 20.000.000 đồng cho cháu Đức Anh.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T Q H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền mà các bị cáo thỏa thuận bồi thường cho cháu Đỗ Đ A mà chưa bồi thường xong theo quy định tại điểm f, khoản 1, Điều 23; khoản 8, điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự .
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T Q H, đại diện hợp pháp của bị cáo Huy là ông Tạ M C; không chấp nhận kháng cáo của cháu Đỗ Đ A và đại diện hợp pháp của cháu Đức Anh là bà Lê T N A. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HSST ngày 16/01/2023 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo và đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đ A về trách nhiệm dân sự đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là cháu Đỗ Đ A, sửa lại về án phí dân sự sơ thẩm và áp dụng pháp luật.
1. Tuyên bố bị cáo: T Q H phạm tội“Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91, Điều 101, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bị cáo T Q H 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 585, 587, 589, 590 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo T Q H, T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H và đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đ A về trách nhiệm dân sự đối với cháu Đức Anh: các bị cáo liên đới bồi thường thiệt hại cho cháu Đỗ Đ A số tiền là 112.896.000 đồng. Buộc các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Cổ phần TV- UDIC số tiền là 40.000.000 đồng. Phần trách nhiệm dân sự cụ thể của từng bị cáo như sau:
- Bị cáo T Q H bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho cháu Đỗ Đ A số tiền là 16.896.000 đồng (mười sáu triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) và bồi thường thiệt hại tài sản cho Công ty Cổ phần TV - UDIC số tiền là 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng). Ghi nhận bị cáo Huy và đại diện hợp pháp của bị cáo Huy đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự đối với cháu Đức Anh. Số tiền bồi thường cho Công ty Cổ phần TV- UDIC được trừ vào 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo Biên lai thu tiền số 0032945 ngày 14/9/2022. Bị cáo Huy còn phải bồi thường tiếp cho Công ty Cổ phần TV - UDIC số tiền là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Các bị cáo T Q K, N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho cháu Đỗ Đ A số tiền là 96.000.000 đồng (chín mươi sáu triệu đồng). Trong đó mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường cho cháu Đức Anh số tiền là 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng), các bị cáo mỗi bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo các Biên lai thu tiền số 0032946 ngày 14/9/2022, số 0032943 ngày 09/9/2022 và các Biên lai thu tiền: số 0032939, số 0032937, số 0032940, số 0032936, số 0032938, số 0032941 cùng ngày 08/9/2022. Đại diện hợp pháp của bị cáo T Q K đã bồi thường cho cháu Đỗ Đ A 2.000.000 đồng tại phiên tòa phúc thẩm. Các bị cáo N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H mỗi bị cáo phải bồi thường cho cháu Đức Anh số tiền 2.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm:
Buộc bị cáo T Q H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 án phí hình sự phúc thẩm.
Buộc các bị cáo N T A, P N K, B H G, V P Đ, N Q H, H N K, T T H mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các quyết định khác của bán sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND quận Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - Công an quận Tây Hồ; - Chi cục THADS quận Bắc Từ Liêm; - Những người tham gia tố tụng; -Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia – Bộ Tư Pháp - Lưu HS vụ án. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐẶNG MẠNH CẨM YẾN |