vanban.org

Bản án 296/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị D trả cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng số 20160220-500000-2398 ngày 20/02/2016 là 25.653.000 (hai mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn) đồng gồm nợ gốc: 14.143.606 (mười bốn triệu một trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm lẻ sáu) đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay TS"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN Hướng dẫn tổ chức tín dụng cho v…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 296/2019/DS-ST
Ngày: 12-8-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Dung;

2. Bà Tiêu Kim Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Toà án nhân dân Quận M, Tp. Hồ Chí Minh.

Trong ngày 12 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 593/2018/TLST- DS ngày 21 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2019/QĐXXST-DS ngày 21/6/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2019/QĐST - DS ngày 19/7/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V

Địa chỉ: Đường B, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Phan Thị Mỹ H, GUQ số 854/UQTA-VH.18 ngày 19/10/2018 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1979.

(Vắng mặt lần 2 không có lý do)

Địa chỉ: Đường C, Phường L, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 10 năm 2018 và bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ngày 20/02/2016 Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V (gọi tắt là Công ty V) cho bà Nguyễn Thị D vay số tiền 14.461.006 (mười bốn triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn lẻ sáu) đồng theo hợp đồng tín dụng số 20160220-500000-2398 để tiêu dùng cá nhân; Thời hạn vay: 30 tháng; lãi suất thỏa thuận theo hợp đồng: 4,58%/tháng. Kết thúc thời hạn vay, bà D có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền là 27.447.000 đồng (gốc: 14.461.006 đồng, lãi: 12.985.994 đồng). Cụ thể: 29 tháng đầu, mỗi tháng bà D trả 897.000 đồng, tháng cuối cùng là 1.434.000 đồng, bắt đầu từ ngày 01/4/2016.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị D chỉ thanh toán được số tiền 1.794.000 đồng cho Công ty V. Sau đó, bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, vi phạm các thỏa thuận trong Hợp đồng vay. Công ty V đã nhiều lần làm việc, yêu cầu bà D trả nợ nhưng không có kết quả.

Tại phiên tòa hôm nay, Công ty V khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc bà Nguyễn Thị D trả cho Công ty V số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng số 20160220-500000-2398 ngày 20/02/2016 là 25.653.000 (hai mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn) đồng. Trong đó, nợ gốc: 14.143.606 đồng; nợ lãi: 11.509.394 đồng.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Nguyễn Thị D nhưng bị đơn không nộp văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án lần nào. Tòa án cũng đã tiến hành hai phiên hòa giải nhưng không hòa giải được. Tại phiên tòa hôm nay, dù đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt xét xử lần 2 hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét thấy nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Nguyễn Thị D phải trả tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng trả góp, đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Mặt khác, bị đơn cư trú tại Quận M, Tp. Hồ Chí Minh nên theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận M, Tp. Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Căn cứ vào giấy đề nghị kiêm hợp đồng vay, lịch thanh toán xác định bà Nguyễn Thị D có vay của Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V số tiền 14.461.006 (mười bốn triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn lẻ sáu) đồng.

Kể từ khi giải ngân cho đến thời điểm xét xử, bà Nguyễn Thị D mới thanh toán cho Công ty V 1.794.000 đồng gồm: 317.400 đồng nợ gốc, tiền lãi: 1.476.600 đồng. Từ tháng 05/2016, bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết do đó có cơ sở xác định bà D còn nợ Công ty V số tiền gốc của hợp đồng là 14.143.606 đồng.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng tiền đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, nên Công ty V là tổ chức tín dụng thực hiện cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận đối với khách hàng là không trái pháp luật. Căn cứ tại Hợp đồng tín dụng và thông báo cho vay thì lãi suất cho vay là 4,58%/tháng. Tuy nhiên, theo bản tự khai của đại diện theo ủy quyền của Công ty V thì Công ty V chỉ yêu cầu bà D thanh toán tổng số tiền là 25.653.000 đồng gồm tiền gốc và lãi theo như thỏa thuận trong hợp đồng, không yêu cầu bà D phải trả thêm tiền lãi phát sinh.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị D phải trả cho Công ty V nợ gốc: 14.143.606 đồng đồng; nợ lãi: 11.509.394 đồng, nguyên đơn không tính thêm lãi phát sinh là có lợi cho bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn bà Nguyễn Thị D phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 3 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 463; khoản 1, khoản 5 Điều 466; Điều 468; khoản 2 Điều 470 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bà Nguyễn Thị D trả cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng số 20160220-500000-2398 ngày 20/02/2016 là 25.653.000 (hai mươi lăm triệu sáu trăm năm mươi ba nghìn) đồng gồm nợ gốc: 14.143.606 (mười bốn triệu một trăm bốn mươi ba nghìn sáu trăm lẻ sáu) đồng; nợ lãi: 11.509.394 (mười một triệu năm trăm lẻ chín nghìn ba trăm chín mươi bốn) đồng.

Thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí sơ thẩm là 1.282.650 (một triệu hai trăm tám mươi hai nghìn sáu trăm năm mươi) đồng. Hoàn trả lại cho Công ty Tài chính TNHH Một thành viên V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 641.325 (sáu trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi lăm) đồng theo biên lai thu số AA/2018/0016673 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận M.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ