vanban.org

Bản án 296/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 16/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2017. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 296/2017/HSST
Ngày 16/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Nguyễn Thị Kim Thu

2.Ông Lê Văn Ninh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Huyền, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 288 /2017/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Văn Q, tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1988; ĐKHKTT: Xóm Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh T; Chỗ ở: Tổ 10, phường T, thành phố T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh: Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 08/12; con ông: Bùi Văn Cg, sinh năm 1958; con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1961, đều trú tại: Xóm Đ, xã A, huyện Đ, tỉnh T; Có vợ: Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1992 (Đã ly hôn); có 01con sinh năm 2016; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Tiền sự: Không có.

- Tiền án: 01

+ Tại bản án số 350/2015/HSST ngày 11/12/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2017 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.

( Có mặt tại phiên toà)

Người làm chứng:

1/ Anh Nguyễn Công V, sinh ngày 14/3/1966, trú tại: Tổ 10, phường T, thành phố T, tỉnh T. (vắng mặt)

2/ Anh Trần Quang Bính, sinh năm 1966,trú tại: Tổ 17, phường T, thành phố T, tỉnh . (vắng mặt)

3/ Anh Nguyễn Ngọc Toàn, sinh năm 1951, trú tại: Tổ 02, phường T, thành phố T, tỉnh . (vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Văn Q bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 20/06/2017, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phòng trọ của ông Nguyễn Công Vụ, sinh năm 1966, trú tại tổ 10, phường T, thành phố T có đối tượng vào thuê phòng trọ có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đến phòng trọ nhà ông Vụ yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện một nam thanh niên đang sử dụng ma túy bằng hình thức hít. Nam thanh niên khai tên là Bùi Văn Q. Q tự giác giao nộp cho tổ công tác một gói giấy báo, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Q khai đó là Hêrôin. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q và thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của Q có trọng lượng là 0,135 gam.

Tại bản kết luận giám định số 787/KL – PC54 ngày 26/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Bùi Văn Q gửi giám định là chất ma túy, loại Hêrôin, có trọng lượng là 0,135 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn Q khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/06/2017, Q đi bộ một mình từ phòng trọ của Q thuộc tổ 10, phường T, thành phố T đến khu vực phường Q, thành phố T, mục đích tìm mua Hêrôin để sử dụng. Đến nơi, Q gặp và mua Hêrôin của một người đàn ông tên H khoảng 50 tuổi (không rõ đi ̣a chỉ, lai li ̣ch) với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Người đàn ông tên H đưa cho Q một gói giấy báo chứa Hêrôin. Khi mua được Hêrôin, Q đi về phòng trọ của mình để sử dụng. Q đang sử dụng Hêrôin thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai của Bùi Văn Q phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và kết luận giám định.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Q1 đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 306 /KSĐT-MT ngày 24/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.

Kết thúc phần xét hỏi chuyển sang phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên công bố bản luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điêu 48, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH 13; Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt:

Bị cáo Bùi Văn Q: Từ 30 đến 36 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41BLHS; Điều 76 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q1(Không kiểm tra bên trong).

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận việc truy tố xét xử là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt được sớm trở về cùng gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người làm chứng, Hội đồng xét xử.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 20/06/2017, tại phòng trọ của ông Nguyễn Công Vụ thuộc tổ 10, phường T, thành phố T, Bùi Văn Q đang có hành vi tàng trữ 0,135 gam Hêrôin với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Khoản 1 Điều 194 BLHS quy định như sau:

“1. Người nào….tàng trữ trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước gây mất trật tự trị an xã hội.Bị cáo nhận thức rõ được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, kinh tế xã hội, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên đã dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xét xử bằng pháp luật hình sự và có một mức án phù hợp, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ Luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 của Quốc hội quy định: Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

Dẫn chiếu tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 5 năm tù, nhẹ hơn mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, áp dụng hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy nên giảm cho bị cáo một mức hình phạt để bị cáo thấy rõ lượng khoan hồng của pháp luật, tích cực cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.

Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh tại địa phương, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, bản thân sống phụ thuộc vào gia đình, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q1, xét đây là tang vật phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án này, theo Bùi Văn Q khai nguồn gốc số Hêrôin thu giữ của Q là do Q mua của một người đàn ông tên Hưng thường gọi là “H mầu”, khoảng 50 tuổi ở khu vực phường Q, thành phố T với giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), do không xác định được địa chỉ cụ thể của H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Đối với ông Nguyễn Công V là chủ phòng trọ Bùi Văn Q thuê trọ, khi Bùi Văn Q thực hiện hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ông V không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không xử lý.

Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2017.

Áp dụng Điều 228 của Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo Bùi Văn Q 45 (Bốn mươi năm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu Q1(không kiểm tra bên trong).

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 324 ngày 18/7/2017, giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).

3.Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn Q phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm,có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ