vanban.org

Bản án 295/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thúy L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

Về con chung: Giao Nguyễn Bảo Kh, sinh ngày 23/3/2007 và Nguyễn Thúy Q, sinh ngày 06/10/2010 cho chị Nguyễn Thúy L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thúy L - Nguyễn Văn K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thúy L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 295/2023/HNGĐ-ST
Ngày 27 – 11 – 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Dũng Liêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Chuộng.

Ông Trần Thanh Văn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thúy L, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp Th, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thúy L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị L và anh K chung sống với nhau năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gia đình hai bên có hòa giải nhưng anh chị vẫn không thay đổi được quan điểm. Nay chị L nhận thấy không thể chung sống cùng với anh K, tình cảm không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh K.

- Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Duy K, sinh năm 2002, Nguyễn Bảo Kh, sinh ngày 23/3/2007 và Nguyễn Thúy Q, sinh ngày 06/10/2010. Khi ly hôn Bảo Kh và Thúy Q có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Đối với Duy K đã trưởng thành, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Đối với anh Nguyễn Văn K: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh nhưng anh không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định.

Về hôn nhân: Chị L và anh K chung sống với nhau năm 2001, không có đăng ký kết hôn. Theo chị L xác định quá trình chung sống, giữa anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gia đình hai bên có hòa giải nhưng anh chị vẫn không thay đổi được quan điểm nên chị L yêu cầu ly hôn với anh K.

Xét thấy, theo khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng…”. Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử không xem xét nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến chị L yêu cầu xin ly hôn mà căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai đương sự là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về con chung: Xét thấy hiện nay cháu Kh và cháu Q đang sống cùng với chị L, tại đơn trình bày nguyện vọng, hai cháu đều có nguyện vọng sống với chị L khi anh chị ly hôn, anh K không có ý kiến gì về vấn đề này, do đó để tiếp tục ổn định cuộc sống và đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình giao cháu Khang và cháu Quỳnh cho chị L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.

Đối với Nguyễn Duy K đã trưởng thành, các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; trường hợp có phát sinh tranh chấp về vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L xác định không có, anh K không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét, trường hợp có phát sinh tranh chấp về các vấn đề này sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị L phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thúy L và anh Nguyễn Văn K là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao Nguyễn Bảo Kh, sinh ngày 23/3/2007 và Nguyễn Thúy Q, sinh ngày 06/10/2010 cho chị Nguyễn Thúy L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.

Anh Nguyễn Văn K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thúy L phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000477 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ