vanban.org

Bản án 295/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”;

Xử phạt bị cáo Huỳnh T 08 (tám) tháng tù. Chuyển hình phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo tại bản án phúc thẩm số 133/2021/ HS-PT ngày 03/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T thành 01 năm tù có thời hạn. Tổng hợp hình phạt của bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 01… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh T - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”;
  • Căn cứ chính? Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 295/2022/HS-ST
Ngày: 06/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H - TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Hoàng và bà Trần Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:254/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:269/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh T, sinh ngày 16/10/1993, tại tỉnh T. Nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: TDP P, phường V, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh V, sinh năm 1949 và bà Đặng Thị Đ, sinh năm 1949; vợ: Lê Thị T, sinh năm 1994, có 03 con lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; gia đình có 10 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 09;

Về nhân thân:

- Ngày 29/3/2016, bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm phạm sức khỏe của người khác (Quyết định số 29942). Đã nộp phạt vào ngày 11/4/2016;

- Ngày 03/12/2021, bị Tòa án nhân dân tỉnh T xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 133/2021/HSPT ngày 03/12/2021).

Tiền án: Có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 133/2021 /HSPT ngày 03/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T).

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H từ ngày 11/8/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Trần Viết C, sinh năm 1987; địa chỉ: Xã H, huyện L, tỉnh T; hiện công tác tại: Công an phường V, thành phố H, tỉnh T. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Phan Hoàng H, sinh năm 1993; địa chỉ: TDP T, phường T, thành phố H, tỉnh T; hiện công tác tại: Công an phường V, thành phố H, tỉnh T. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Đoàn Văn L, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh T; hiện công tác tại: Công an phường V, thành phố H, tỉnh T. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Hồ Văn Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: Phòng 13, H3, khu tái định cư, phường S, thành phố H, tỉnh T. Vắng mặt.

- Đỗ Xuân H, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường V, thành phố H, tỉnh T. Vắng mặt.

- Lê Thị T, sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường V, thành phố H, tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 27/02/2022, anh Phan Hoàng H cùng anh Đoàn Văn L điều khiển xe mô tô Cảnh sát, biển kiểm soát 75B1-007.68 đi trên các tuyến đường của phường V, thành phố H để thực hiện việc tuyên truyền phổ biến cấp Căn cước công dân cho người dân và tuần tra bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn phường V, thành phố H theo kế hoạch số 16/KH-CAP ngày 25/02/2022 của Công an phường V (Thời gian thực hiện từ ngày 26/02/2022 đến ngày 27/02/2022). Khi anh H và anh L đi đến tuyến đường tỉnh lộ 4 thuộc địa phận Tổ dân phố N, phường V, thành phố H thì phát hiện Huỳnh T có biểu hiện uống rượu, bia và gây mất tình hình an ninh trật tự nên anh L và anh H đi đến vị trí của T rồi giới thiệu là cán bộ Công an phường V, nhắc nhở yêu cầu T trở về nhà không làm ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự khu vực. Tuy nhiên, Huỳnh T không chấp hành, đồng thời có những lời lẽ xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và có ý định hành hung đối với anh H, anh L. Lúc này, anh Hồ Văn Đ là em họ của T và người dân đi đường thấy vậy nên can ngăn Huỳnh T.

Nhận thấy sự việc trên của Huỳnh T làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự nên anh L đã gọi điện thoại báo cáo anh Trần Viết C là Phó trưởng Công an phường V chỉ huy phụ trách ca trực ngày 27/02/2022 sự việc như trên để xin ý kiến chỉ đạo. Anh C chỉ đạo mời Huỳnh T đến trụ sở Công an phường V để làm việc. Tại thời điểm trên anh , anh Hà không mặc quân phục Công an nhân dân nên đã về trụ sở cơ quan để thay quân phục và cùng anh C đến địa điểm trên nhưng T đã bỏ về nhà.

Khoảng 18 giờ 30 phút, anh C, anh L và anh H đến nhà của Huỳnh T tại Tổ dân phố P, phường V, thành phố H để mời T về trụ sở làm việc. Khi vào nhà, anh L đi trước còn anh C, H đi liền theo sau. Khi thấy T đang ngồi trên ghế tại phòng khách cùng với vợ là Lê Thị T nên anh L mời T đến cơ quan Công an phường V để làm việc. Huỳnh T nghe vậy, liền chạy đến dùng hai tay đánh vào đầu anh L. Lúc này anh C và anh tới khống chế T thì T dùng chân đạp vào bụng và tay của anh L, đồng thời T dùng tay đánh trúng vào mặt anh C gây chảy máu mũi. Sau đó, anh H và anh L khống chế và bắt giữ được T đưa về trụ sở để làm rõ. Tại đây T tiếp tục dùng những lời nói chửi bới, đe dọa xúc phạm đến danh dự nhân phẩm lực lượng Công an phường. Khi tiến hành đưa T vào phòng làm việc để ghi lời khai, T còn dùng hai chân đá vào người anh L, anh H. Sau đó anh L, anh H cùng với anh Đỗ Xuân H là bảo vệ dân phố khống chế thì T vẫn tiếp tục có lời nói đe dọa thách thức lực lượng Công an phường V. Vì vậy, Công an phường V đã lập hồ sơ vụ việc rồi chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thụ lý theo thẩm quyền.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 243-22/TgT ngày 21/6/2022 của Trung tâm Giám định Y khoa- Pháp y, Sở Y tế tỉnh T đối với thương tích của Trần Viết C, như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Chạm thương phần mềm vùng mặt đã lành, không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung hiện tại là: 0% (Không phần trăm).

3. Vật gây: Tổn thương đã lành nhưng dựa vào tài liệu thu thập có thể nhận định vật gây là vật tày.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 245-22/TgT ngày 21/6/2022 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y, Sở Y tế tỉnh T đối với thương tích của Đoàn Văn L, như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Chạm thương phần mềm vùng bụng đã lành không để lại dấu vết, không ảnh hưởng đến chức năng. 0%

Chạm thương phần mềm bàn tay phải, để lại vết biến đổi sắc tố da trên xương bàn I, không ảnh hưởng chức năng. 1%

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung hiện tại là: 01% (Một phần trăm).

3. Vật gây: Tổn thương mu bàn tay phải do vật tày tác động.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 270-22/TgT ngày 04/7/2022 của Trung tâm Giám định Y khoa- Pháp y, Sở Y tế tỉnh T đối với thương tích của Phan Hoàng H, như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Chạm thương phần mềm đùi phải không để lại dấu vết, không ảnh hưởng chức năng: 0% (Không phần trăm);

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể chung hiện tại là: 0% (Không phần trăm).

3. Vật gây: Phù hợp với vật tày.

* Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: Không

* Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Viết C, Đoàn Văn L và Phan Hoàng H không yêu cầu bồi thường các khoản viện phí, bồi dưỡng, tổn thất tinh thần do Huỳnh T gây ra.

Tại Bản cáo trạng số: 274/CT-VKS-TPH ngày 21/10/2022 của Viện kiểm nhân dân thành phố H, tỉnh T đã truy tố bị cáo Huỳnh T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

- Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh T từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65; Điều 56 tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự phúc thẩm số 133/2021/HS-PT ngày 03/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án với mức hình phạt từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Viết C, Đoàn Văn L và Phan Hoàng H không yêu cầu bồi thường các khoản viện phí, bồi dưỡng, tổn thất tinh thần do Huỳnh T gây ra nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 27/02/2022, anh Trần Viết C, anh Đoàn Văn L và anh Phan Hoàng H là cán bộ Công an phường V, thành phố H đang thi hành công vụ đến nhà của Huỳnh T tại tổ dân phố P, phường V, thành phố H yêu cầu Huỳnh T về trụ sở Công an phường V làm việc. Huỳnh T không chấp hành và dùng tay đánh vào đầu và dùng chân đạp vào bụng của anh Đoàn Văn L; dùng tay đánh trúng vào mặt anh Trần Viết C. Sau khi bị khống chế đưa về trụ sở Công an phường, Huỳnh T vẫn tiếp tục chửi bới, xúc phạm và dùng 02 chân đá vào người anh Đoàn Văn L và anh Phan Hoàng H. Hậu quả, anh Đoàn Văn L bị tổn hại sức khỏe là 1%, anh Trần Viết C, anh Đoàn Văn L và anh Phan Hoàng H bị cản trở khi đang thi hành công vụ.

Với hành vi nêu trên Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh T đã truy tố Huỳnh T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật, nhưng vì coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến hoạt động bình thường, đúng đắn và làm giảm hiệu lực quản lý trật tự công cộng của cơ quan quản lý Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự xã hội.

Mặc dù bị cáo phạm vào tội ít nghiêm trọng nhưng bản thân bị cáo đang trong thời gian chấp hành hình phạt (cho hưởng án treo) của bản án hình sự phúc thẩm số 133/2021/HS-PT ngày 03/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T mà lại tiếp tục phạm tội mới nên cần thiết phải xử lý nghiêm.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa.

Ngày 03/12/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh T xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án hình sự phúc thẩm số 133/2021/HS-PT. Trong thời gian thi hành án bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, cần áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án phúc thẩm nói trên và áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Viết C, anh Đoàn Văn L và anh Phan Hoàng H không yêu cầu bồi thường nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”;

Áp dụng khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Huỳnh T 08 (tám) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 65; Điều 56 Bộ luật hình sự;

Chuyển hình phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo tại bản án phúc thẩm số 133/2021/ HS-PT ngày 03/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh T thành 01 năm tù có thời hạn. Tổng hợp hình phạt của bản án này, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù . Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 11/8/2022.

2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Huỳnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Án xử sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ