- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 295/2021/HS-ST Ngày 27-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2021 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 329/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Trần Văn Th, sinh năm 1996 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp V Qu, xã V A, huyện Ch Th, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn L, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1973; bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2021; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
*Người tham gia tố tụng khác:
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn S; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân bị can Trần Văn Th là người nghiện và sử dụng trái phép ma túy từ đầu năm 2019. Khoảng 18 giờ ngày 23/6/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 52H8-9042, đi từ phòng trọ của mình ra khu vực chợ đêm H L thuộc phường Th Gi, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương gặp một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 200.000 đồng ma túy được đựng trong nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) và cho Th luôn cái nỏ. Sau khi mua được ma túy, Th cất giấu nỏ thủy tinh đựng ma túy trong bao thuốc lá hiệu Jet rồi đi uống cà phê. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Th tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 52H8-9042 xuống địa bàn thành phố Dĩ An thuê nhà nghỉ để sử dụng ma túy, khi đến trước nhà số BM đường N1, khu phố Th Nh 1, phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường D A phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra về ma túy - kinh tế Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đi tuần tra phát hiện nghi vấn yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Công an phát hiện trong giỏ xe phía trước có 01 bao thuốc lá hiệu Jet, bên trong bao thuốc lá có 01 nỏ thủy tinh chứa chất màu nâu, Thao khai nhận là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản người có hành vi phạm tội quả tang cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồn: 01 (một) nỏ thủy tinh chứa chất màu nâu và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave biển số 52H8-9042, số máy: VTT12JL1P52FMH002788, số khung: RRKWCHUM7XV02788.
Căn cứ Kết luận giám định số: 373/MT-PC09 ngày 30/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh Bình Dương, kết luận: Chất màu nâu trong 01 (một) nỏ thủy tinh gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1841 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra và trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận giám định số: 373/MT-PC09 ngày 30/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh Bình Dương.
Đối với người đàn ông tên L bán ma túy cho Trần Văn Th tại khu vực chợ đêm H L thuộc phường Th Gi, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Tại cáo trạng số: 342/CT – VKS ngày 11 tháng 10 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Văn Th với mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng sau giám định 0,1431 gam, loại Methamphetamine và 01 (một) nỏ thủy tinh, là vật cấm lưu thông, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 52H8-9042, số máy: VTT12JL1P52FMH002788, số khung: RRKWCHUM7XV02788 mà Trần Văn Th dùng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh xe không rõ nguồn gốc, Thao khai nhận xe mô tô trên là Th mượn của một người bạn ngoài xã hội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công An thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã đăng báo theo quy định nhưng không có ai đến nhận nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Do bị cáo có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên không có lời nói sau cùng, tuy nhiên trong quá trình điều tra và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của của mình như Cáo trạng đã truy tố đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị cáo Trần Văn Th có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo là đúng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/6/2021, trước nhà số BM đường N1, khu phố Th Nh 1, phường D A, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Lực lượng Công an phường D A phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra ma túy - kinh tế Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương phát hiện Trần Văn Th tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,1841 gam, loại Methamphetamine.
Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo tàng trữ ma túy có khối lượng 0,1841 gam, loại Methamphetamine, mục đích tàng trữ để sử dụng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 342/CT-VKS ngày 11 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trần Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như trong đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy đồng thời bị cáo là người không biết chữ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
- Xét 01 (một) bì thư được niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng sau giám định 0,1431 gam, loại Methamphetamine và 01 (một) nỏ thủy tinh, là vật cấm lưu thông, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Xét 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 52H8-9042, số máy: VTT12JL1P52FMH002788, số khung: RRKWCHUM7XV02788 mà Trần Văn Th dùng làm phương tiện phạm tội. Qua xác minh xe không rõ nguồn gốc, Th khai nhận xe mô tô trên là Th mượn của một người bạn ngoài xã hội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công An thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã đăng báo theo quy định nhưng không có ai đến nhận nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước
Đối với người đàn ông tên Long bán ma túy cho Trần Văn Th tại khu vực chợ đêm H L thuộc phường Th Gi, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Th 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng sau giám định 0,1431 gam, loại Methamphetamine và 01 (một) nỏ thủy tinh.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 52H8-9042, số máy: VTT12JL1P52FMH002788, số khung: RRKWCHUM7XV02788.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/10/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Trần Văn Th phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA