vanban.org

Bản án 295/2021/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 19/05/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 23/2020/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang

Chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại sơ thẩm theo thủ tục chung. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 23/2020/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 295/2021/HC-PT
Ngày 19 - 5 - 2021
V/v khiếu kiện hành vi hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên;

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Ngọc Huynh

Ông Lê Thành Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Út - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 684/2020/TLPT-HC ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc: “Khiếu kiện hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân huyện C”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2020/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 243/2021/QĐPT-HC ngày 01 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Nguyễn Văn B, sinh năm 1950.

Địa chỉ: Ấp Hậu Phú 1, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1971. (có mặt)

Địa chỉ: 725/28 T, Phường T, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang;

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Quốc T, chức vụ: Chủ tịch.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N, chức vụ: Phó chủ tịch. (vắng mặt)

Địa chỉ: Trương C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích: Ông Nguyễn Văn C – Trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường huyện C. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ủy ban nhân dân tỉnh T. (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 23, Phường 1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2/ Phòng Giao thông – Vận tải huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ: Phòng Kinh tế hạ tầng huyện C, tỉnh Tiền Giang;

Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thanh H – Trưởng phòng. (có mặt)

Địa chỉ: T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang

Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Nguyễn Văn B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ông là người nhận chuyển nhượng phần đất của bà Nguyễn Thị Th (ngụ tại ấp Hậu Quới, xã H2, huyện C) bằng giấy viết tay vào ngày 09/04/1992. Phần đất ông nhận chuyển nhượng của bà Th có tổng diện tích là 155m2, với giá là 65.000.000 đồng, tọa lạc tại xã H2, huyện C. Diện tích 155m2 này thuộc một phần trong diện tích 1.849m2 đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Tiền Giang cấp cho Phòng giao thông vận tải huyện C để xây dựng Công trình Bến xe khách Hậu Mỹ Bắc theo Quyết định số 626/QĐ-UB ngày 30/06/1989. Tuy nhiên, việc thi hành quyết định này cho đến nay hơn 30 năm mà vẫn chưa được thực hiện.

- Hiện nay, phần đất 155m2 này ông đang quản lý sử dụng liên tục từ 1992 đến nay 2020 là gần 30 năm, hiện trạng trên đất ông đã xây nhà ở kiên cố và ở ổn định.

- Vừa qua, ông được biết Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông Lê Công Đ (là người nhận chuyển nhượng phần đất của bà Th giống như ông và liền kề với phần đất của ông. Ông đã thực hiện khiếu nại về việc UBND huyện C không thực hiện cấp giấy chứng nhận đất cho ông, ngày 07/10/2019 UBND huyện C có văn bản số 2055/UBND-NC về việc: phúc đáp nội dung đơn của ông, theo đó UBND huyện C không đồng ý cấp giấy chứng nhận phần đất nêu trên cho ông, nghĩa là UBND huyện C cho rằng phần đất 155m2 của ông nêu trên là do UBND tỉnh Tiền Giang trực tiếp quản lý (theo quyết định số 626/QĐ-UB ngày 30/06/1989 của UBND tỉnh Tiền Giang).

- Như vậy, kể từ ngày 30/06/1989 UBND tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 626/QĐ-UB đã hơn 30 năm nhưng vẫn chưa thực hiện công trình và trong suốt gần 30 năm qua, phần đất trên vẫn do ông quản lý và sử dụng kể từ khi ông nhận chuyển nhượng của bà Th, trên đất ông cũng đã xây dựng nhà ở kiên cố và ở ổn định. Nay ông yêu cầu buộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tổ chức thực hiện cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho ông đối với phần đất có diện tích 155m2 tọa lạc tại xã H2, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang trình bày:

Ngày 30/6/1989, Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số 626/QĐ-UB về việc cấp đất xây dựng công trình bến xe khách H2 cho Phòng Giao thông

- Vận tải huyện C, khu đất toạ lạc tại xã H2 thuộc loại đất trũng sản xuất 01 vụ lúa do ông Vương Đình T và bà Nguyễn Thị Th sử dụng để xây dựng công trình bến xe khách H2 có diện tích 0 ha 1849m2, với tứ cận:

- Đông giáp Tỉnh lộ 20 (nay Tỉnh lộ 869).

- Tây giáp đất ông Vương Đình T.

- Nam giáp đất ông Vương Đình T và Lê Thanh L.

- Bắc giáp lộ Bắc Nguyễn Văn Tiếp (nay là Tỉnh lộ 865).

Ông Vương Đình T và bà Nguyễn Thị Th đã bàn giao mặt bằng để nhà nước xây dựng công trình bến xe khách H2.

Hiện nay, ông Nguyễn Văn B, ngụ ấp Hậu Phú 1, xã H, huyện C yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 155m2, toạ lạc tại ấp Hậu Qưới, xã H2 nằm trong tổng diện tích 1849m2 đất mà Ủy ban nhân dân tỉnh trước đây đã ban hành Quyết định số 626/QĐ-UB cấp đất xây dựng công trình bến xe khách xã H2 cho Phòng Giao thông - Vận tải huyện C, với lý do là vào ngày 09/4/1992 bà Nguyễn Thị Th có làm giấy tay mua bán đất với ông, diện tích là 155m2 với số tiền 65.000.000 đồng.

Từ các căn cứ nêu trên, nhận thấy việc ông Nguyễn Văn B, ngụ ấp A, xã H, huyện C yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 155m2, toạ lạc tại ấp Hậu Qưới, xã H2 là chưa đủ cơ sở pháp lý.

Bởi vì, phần đất này nằm trong tổng diện tích 1849m2 đất mà trước đây Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 626/QĐ-UB ngày 30/6/1989 về việc cấp đất xây dựng công trình bến xe khách Xã Hậu Mỹ Bác B cho Phòng Giao thông Vận tải huyện C quản lý, sử dụng. Giấy tay mua bán đất giữa bà Nguyễn Thị Th với ông Nguyễn Văn B là trái pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND tỉnh Tiền Giang trình bày: Vắng mặt không có văn bản ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phòng Giao thông – Vận tải huyện C, tỉnh Tiền Giang - Cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ: Phòng Kinh tế hạ tầng huyện C, tỉnh Tiền Giang có đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thanh Hiền trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của UBND huyện C.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 23/2020/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 3; Khoản 1 Điều 30, khoản 2 Điều 32, Điều 116, khoản 1 Điều 158; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính;

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 155m2, tọa lạc tại ấp Hậu Quới, xã Hậu Mỹ Bắc, huyện C.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 07/10/2020, ông Nguyễn Văn B kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm, buộc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 155m2, tọa lạc tại ấp Hậu Quới, xã Hậu Mỹ Bắc, huyện C cho ông Nguyễn Văn B.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Về tố tụng: Chủ tọa phiên tòa và các thành viên hội đồng xét xử, cũng như các đương sự đã thực hiện đúng quy định pháp luật luật tố tụng hành chính. Về nội dung: Người khởi kiện kháng cáo không cung cấp được tài liệu mới chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng:

Về đối tượng khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B yêu cầu UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông diện tích 155m2. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Bộ thuộc khiếu kiện “Hành vi hành chính về quản lý đất đai” theo qui định tại Điều 3 Luật tố tụng hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính.

Về thẩm quyền: Theo Điều 32 Luật tố tụng hành chính, người khởi kiện khởi kiện vụ án hành chính đối với các quyết định trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Về thời hiệu: Ngày 18/5/2020, ông Bộ nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là còn trong thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 116 của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung kháng cáo:

Diện tích 155m2 mà ông Bộ yêu cầu UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Th vào năm 1992. Trước đó, năm 1989 UBND tỉnh Tiền Giang đã thu hồi diện tích 1.849m2 của ông T, bà Th để cấp cho Phòng Giao thông vận tải huyện C.

Tòa án sơ thẩm cho rằng diện tích đất trên của ông Nguyễn Văn B nằm trong tổng diện tích 1.849m2 đã được UBND tỉnh Tiền Giang cấp cho Phòng Giao thông vận tải huyện C để xây dựng công trình Bến xe khách H2 theo Quyết định 626. Hiện nay Quyết định 626 vẫn còn hiệu lực nên việc chuyển nhượng đất giữa ông Bộ và bà Th là giao dịch trái pháp luật. Do đó, UBND huyện C không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông là đúng quy định.

Nhưng tòa án sơ thẩm chưa làm rõ các vấn đề sau:

- Diện tích 1.849m2 bị thu hồi giao cho Phòng giao thông vận tải có tiếp nhận sử dụng hay không? Khi Phòng giao thông vận tải giải thể vào năm 1992 thì cơ quan nào tiếp quản sử dụng?

- Khi ông Bộ nhận chuyển nhượng và sử dụng đất từ năm 1992 từ đó đến nay cơ quan quản lý đất đai địa phương có ý kiến gì không?

- Hiện tại đơn vị nào đang quản lý phần đất còn lại theo Quyết định 626.

Xét thấy, những vấn đề trên không thể làm rõ tại cấp phúc thẩm được, để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của đương sự cần thiết phải hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án.

Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị huỷ, nên ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.

Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số 23/2020/HC-ST ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang

Chuyển hồ sơ về cho Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại sơ thẩm theo thủ tục chung.

2. Về án phí:

Về án phí hành chính sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác được xác định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.

Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn B không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm, được hoàn lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001459 ngày 08/10/2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ