vanban.org

Bản án 295/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn b Nguyễn M: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa b Nguyễn M v ông Đo n K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình Nguyễn M v ông Đo n K"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 295/2019/HNGĐ-ST
Ngày 02 - 4 - 2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: B Trương Thị Ho ng Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bình.

2. Bà Nguyễn Thị Lương.

- Thư ký phiên tòa: B Nguyễn Thị Hải Sâm là Thư ký Tòa án nhân dân quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: B Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 4 năm 2019, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1117/2018/TLST-HNGĐ ng y 03 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HNGĐ ng y 18 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: B Nguyễn M, sinh năm 1955; Trú tại 21/3 đường H, Phường M, quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Đo n K, sinh năm 1962; Trú tại 21/3 đường H, Phường M, quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh.

(Bà M, ông K có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 10 năm 2018 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn - bà Nguyễn M trình bày:

Bà và ông K tự nguyện chung sống, có tổ chức lễ cưới v có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/P10, quyển số 58/1995-TH do Ủy ban nhân dân Phường M, quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh cấp ng y 15/12/1995. Vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông K sống không có tình nghĩa, không chăm sóc b lúc ốm đau, cha mẹ vợ nằm viện không đi thăm, tính toán tiền bạc chi li, b bệnh nhờ chở đi bệnh viện thì lấy tiền công không đưa tiền l không chở, sinh hoạt cuộc sống thường nhật rất bừa bộn, b góp ý thì kiếm chuyện hăm dọa sẽ quậy phá, đồ đạc trong nh bị hư ông K không quan tâm sữa chữa, b nhiều lần yêu cầu nhưng ông K không làm và b phải nhờ người khác làm giúp. Rất nhiều mâu thuẫn nhỏ nhặt phát sinh trong quá trình chung sống, khiến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, trong mọi việc b phải luôn nhường nhịn ông K để yên cửa yên nhà. Cuộc sống quá ngột ngạt nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2010. Năm 2011 b có nộp đơn yêu cầu ly hôn, do Tòa hòa giải v ông K hứa sửa đổi nên b rút đơn. Tuy nhiên, từ đó đến nay vợ chồng vẫn ly thân mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai, do vẫn sống chung một nh nên hai bên vẫn cãi nhau từ chuyện nhỏ mỗi ng y. Trong thời gian n y ông K đã có người phụ nữ khác bên ngo i b nhiều lần bắt gặp. Nay cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được, sức chịu đựng không còn nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông K để ổn định tinh thần tuổi gi .

Về con chung: Có 01 con chung tên Đo n Thị B, sinh năm 1996. Con chung đã th nh niên.

Về t i sản chung v nợ chung: Bà M khai không có.

Bị đơn - ông Đoàn K trình bày:

Ông thống nhất ý kiến về thời gian chung sống, kết hôn như bà M trình bày. Về mâu thuẫn vợ chồng, ông nhận thấy hai bên vẫn sống bình thường, không phát sinh mâu thuẫn. Căn nh đang ở l nh riêng của b M, vì vậy trong quá trình chung sống, ông đã nhiều lần nhường nhịn nhưng b M vẫn không vừa lòng. Khi con còn nhỏ, ông một mình đưa đón con đi học, đóng tiền học cho con, cùng góp chi phí sữa chữa khi nh có hư hỏng. Việc b y bừa trong nh thì từ từ dọn, b M cũng b y bừa v đồ của b M nhiều hơn đồ của ông. Việc chở b M đi bệnh viện, ông không đòi tiền công mà do bà M tự đưa và nói là tiền xăng nên ông lấy. Việc b M cho rằng ông ngoại tình l không có, do ông chạy xe ôm thường xuyên chở khách nữ quen nên b M nghi ngờ chứ không có bằng chứng. Từ năm 2011 đến nay, sau khi b M rút đơn ly hôn vợ chồng vẫn mạnh ai nấy sống, ăn riêng, ngủ riêng, tiền chi phí sinh hoạt gia đình chia đôi, tất cả l do bà M yêu cầu nên ông l m theo, thật lòng ông không muốn. Nay b M yêu cầu ly hôn ông không đồng ý vì còn tình cảm với vợ con, đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đo n tụ.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đo n Thị B, sinh năm 1996. Con chung đã th nh niên.

Về t i sản chung: Ông K khai không có. Về chi phí sữa chữa mỗi khi nh hư hỏng xuống cấp: Ông K không có yêu cầu gì trong vụ kiện n y.

Về nợ chung: Ông K khai không có.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến như trên.

Bị đơn xác nhận thời gian ly thân từ năm 2018, không phải từ năm 2011 như đã trình b y trước đây, giữ nguyên ý kiến không đồng ý ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp h nh pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử l đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án thụ lý vụ án l đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, th nh phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các th nh viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa.

- Về nội dung: Căn cứ t i liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án v lời trình b y của nguyên đơn tại phiên tòa đã đủ cơ sở chấp nhận to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa v căn cứ v o kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: B Nguyễn M có đơn xin ly hôn ông Đo n K, đây l quan hệ tranh chấp về hôn nhân v gia đình - bị đơn ngụ tại quận B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự (sau đây viết tắt l BLTTDS) thì vụ án n y thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh.

Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận B: Trong vụ án n y, Tòa án có tiến h nh thu thập chứng cứ nên Viện Kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 BLTTDS.

Về nội dung vụ án:

t yêu c u của nguyên đơn, Hội đ ng x t x th y:

Về hôn nhân:

Căn cứ v o Giấy chứng nhận kết hôn số 01/P10, quyển số 58/1995-TH do Ủy ban nhân dân Phường M, quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh cấp ng y 15/12/1995 thì quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn v bị đơn l hợp pháp, được pháp luật công nhận v bảo vệ.

Nguyên đơn v bị đơn chung sống trên cơ sở tự nguyện. Theo trình bày của nguyên đơn thì sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình; Năm 2010, vợ chồng sống ly thân mặc dù vẫn ở chung nh . Đến năm 2011, nguyên đơn nộp đơn ly hôn, sau đó bà đã rút đơn nhằm cho bị đơn cơ hội thay đổi nhưng bị đơn không thay đổi nên hai bên tiếp tục sống ly thân đến nay, vì sống chung nh nên hai bên vẫn cãi nhau từ chuyện nhỏ mỗi ng y. Bản thân nguyên đơn hiện nay nhiều bệnh như cao huyết áp, bệnh tim cần phải dưỡng sức, nhưng sống chung với bị đơn khiến bệnh nặng hơn vì ức chế. Theo bị đơn trình bày, vợ chồng chung sống bình thường, không phát sinh mâu thuẫn, do nguyên đơn yêu cầu nên từ năm 2011 đến nay, vợ chồng ăn riêng, ngủ riêng, tiền chi phí sinh hoạt gia đình chia đôi. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn khẳng định không còn tình cảm vợ chồng với bị đơn và giữ nguyên yêu cầu ly hôn, bị đơn khẳng định còn tình cảm vợ chồng với nguyên đơn, hai bên chỉ mới ly thân từ năm 2018 và không đồng ý ly hôn.

Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn v bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau mọi mặt trong cuộc sống; Nhưng ở đây, nguyên đơn v bị đơn đã không l m được điều này; Khi có mâu thuẫn xảy ra, hai bên không đặt mình v o vị trí đối phương để có thể thấu hiểu, cảm thông v tha thứ cho nhau, cùng nhau giải quyết mâu thuẫn trong ôn hòa; Thay v o đó, mỗi bên chọn cuộc sống riêng theo cách của mình, không cùng nhau vượt qua được khó khăn, bỏ mặc vợ chồng muốn sống ra sao thì sống, không ai quan tâm ai.

Về phía nguyên đơn, vì không còn tình cảm vợ chồng với bị đơn nên khi phát sinh mâu thuẫn, dù chỉ l nhỏ, b cũng không bỏ qua khiến vợ chồng thường xuyên lời qua tiếng lại, dẫn đến hôn nhân không còn hạnh phúc, chỉ còn l chịu đựng.

Về phía bị đơn, ông cho rằng căn nh đang ở l nh riêng của nguyên đơn nên trong quá trình chung sống, nguyên đơn có đối xử thế n o bị đơn cũng cố nhường nhịn, dù vậy nguyên đơn vẫn không vừa lòng. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn giữ nguyên ý kiến mong muốn Tòa án hòa giải để vợ chồng đo n tụ. Tuy nhiên, bị đơn không chủ động hòa giải với nguyên đơn, không để tâm tìm hiểu lý do tại sao nguyên đơn không còn tình cảm vợ chồng, không đưa ra được phương án gì để giải quyết dứt điểm mâu thuẫn, đồng thời không nhìn thấy được khuyết điểm của bản thân v thay đổi để cuộc sống hôn nhân tốt hơn, bị đơn chỉ biết thuận theo ý muốn của nguyên đơn. Điều n y cho thấy, suốt quá trình chung sống, bị đơn thiếu quan tâm, vun đắp, xây dựng tình cảm vợ chồng khiến khoảng cách giữa hai bên ng y c ng xa, thể hiện qua việc ông b đã ly thân từ năm 2010 (theo b M trình b y) v từ năm 2018 (theo ông K trình bày) đến nay.

Như vậy, có cơ sở để cho thấy nguyên đơn v bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm v o tình trạng trầm trọng, nếu kéo d i cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy yêu cầu của nguyên đơn l có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân v gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đo n Thị B, sinh năm 1996. Con chung đã th nh niên.

Về tài sản chung: Hai bên khai không có.

Về n chung: Hai bên khai không có.

Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố H Chí M: Yêu cầu của nguyên đơn l phù hợp theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận to n bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận B, Th nh phố Hồ Chí Minh l đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Từ phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân v Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, con chung, t i sản chung v nợ chung.

Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng do nguyên đơn chịu to n bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân v Gia đình;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn b Nguyễn M:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa b Nguyễn M v ông Đo n K.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Đo n Thị B, sinh năm 1996. Con chung đã th nh niên.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về n chung: Không có.

2. Về án phí:

Án phí ly hôn sơ thẩm b Nguyễn M phải chịu 300.000 (Ba trăm ng n) đồng được trừ v o số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án bà M đã nộp l 300.000 (Ba trăm ng n) đồng theo biên lai số 0037445 ngày 27/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B. Bà M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ng y kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án được thi h nh theo quy định tại điều 2 Luật thi h nh án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các điều 6, 7 v 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

Cỡ chữ