- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Đình H - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật s…"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật ình sự; Điều 65 Bộ luật ình sự; Điều 341 Bộ luật ình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 294/2025/HS-PT Ngày 08 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung;
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết, bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Công Bình – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 266/2025/TLPT-HS ngày 01/10/2025 đối với bị cáo Võ Đình H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 23/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Võ Đình H; sinh ngày 20/9/1968, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Thôn 4, xã H, tỉnh Đắk Lắk. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Giáo viên dạy nghề; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Võ Đình L và bà Phạm Thị T (đều chết); Bị cáo có vợ là Lê Thị Kim O (đã ly hôn). Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1999. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/9/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Nguyễn Văn C nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Võ Đình H là giáo viên dạy lái xe của Trung tâm Đào tạo và sát hạch lái xe N. Trong quá trình dạy lái xe, bị cáo H thấy một số học viên có nhu cầu đăng ký thi nâng hạng giấy phép lái xe từ hạng B2 lên các hạng C, D, E nhưng không có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. Thông qua mạng xã hội Facebook, thấy tài khoản “Hoàng Long” của Mai Trọng V đăng bài nhận làm giả tài liệu, giấy tờ, bị cáo H đã nhắn tin, trao đổi. Hai bên thoả thuận, Việt làm giả Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông với số tiền 1.300.000 đồng / 1 bằng, nhận bằng qua dịch vụ gửi bưu phẩm, nhận tiền qua tài khoản ngân hàng. Từ tháng 9/2022 đến tháng 4/2023 bị cáo H đã thuê Mai Trọng V làm giả Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông cho Nguyễn Văn C, Đinh Xuân T, Trần Quang D, Trần Thanh B và Nguyễn Thị Y. Sau khi nhận được bằng tốt nghiệp giả, bị cáo C đã sử dụng để nộp hồ sơ vào Trường dạy lái xe N để học và thi nâng hạng giấy phép lái xe và được Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông cấp Giấy phép lái xe hạng D thì bị phát hiện, xử lý.
- Tại Kết luận giám định số 1330/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông ghi tên Trần Quang D, Nguyễn Thị Y do Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Đắk Lắk cấp là tài liệu giả.
Tại Biên bản làm việc ngày 26/02/2024 và Biên bản xác minh ngày 14/02/2025 tại Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Đắk Lắk thể hiện: Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Đắk Lắk không cấp Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông cho ai có tên Trần Quang D, Nguyễn Thị Y, Vũ Thanh B, Nguyễn Văn C.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 23/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk quyết định:
Tuyên bố bị cáo Võ Đình H phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Đình H 02 năm 06 tháng tù.
Ngày 24/7/2025, bị cáo Võ Đình H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Võ Đình H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm đã nhận định, cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Đình H về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Xét mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là nặng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết đã chấp hành tốt các quy định tại địa phương, được chính quyền địa phương xác nhận. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Từ tháng 9/2022 đến tháng 4/2023 bị cáo Võ Đình H đã thuê Mai Trọng V làm giả Bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông cho Nguyễn Văn C, Đinh Xuân T, Trần Quang D, Trần Thanh B và Nguyễn Thị Y. Sau khi nhận được bằng tốt nghiệp giả, bị cáo C đã sử dụng để nộp hồ sơ vào Trường dạy lái xe N để học và thi nâng hạng giấy phép lái xe và được Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông cấp Giấy phép lái xe hạng D thì bị phát hiện, xử lý. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Đình H về tội “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo Võ Đình H, xét thấy: Mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, giúp sức cho bị cáo C và các đối tượng liên hệ với V để làm giấy tờ giả, bị cáo không thu lợi bất chính, tư lợi cá nhân. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng; trong quá trình công tác tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp N cũng như sinh sống tại địa phương, bị cáo luôn gương mẫu, đi đầu trong các hoạt động. Xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được chấp hành án tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Võ Đình H.
. Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
. Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Đình H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 23/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Võ Đình H.
[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật ình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Đình H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 08/12/2025), về tội “Làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức”.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
[3]. Về án phí: Bị cáo Võ Đình H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk; - TAND khu vực 1-Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 1-Đắk Lắk; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nhung |