- Tranh chấp gì? án hình sự — "Long + đp - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91, Điều 101,
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN T.P HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 294/2023/HS-ST Ngày 29/12/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Hùng.
+ Các Hội thẩm nhân dân: - Ông: Dƣơng Văn Xuyên – Giáo viên.
- Bà Nguyễn Thị Hồng – Công chức.
+ Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn M
Tháp – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn
Ngày 29 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà
Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:226/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:302/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thanh L, sinh ngày 15/01/2006. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Học vấn: 11/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ và tên cha: Nguy n Văn H1, sinh năm 1976; Họ và tên mẹ: Nguy n Thị Dung, sinh năm 1983; Họ và tên vợ, con chưa. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Trung H, sinh ngày 16/10/2005; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Học vấn: 11/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ và tên cha: Nguy n Đình Trư ng, sinh năm 1979; Họ và tên mẹ: ê Hoài Thu, sinh năm 1982; Vợ, con chưa. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Quang M, Sinh ngày 05/8/2005 Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: V L, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Học vấn: 10/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ và tên cha: Nguy n Viết Cư ng, sinh năm 1979; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Hưởng, sinh năm 1986; Vợ con chưa; Tiền án, tiền sự: Không có tiền án, tiền sự. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Nguyễn Minh Đ, Sinh ngày 11/9/2004, Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn V L, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: ao động tự do; Học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ và tên cha: Nguy n Văn ợi, sinh năm 1980; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị H ng, sinh năm 1983; Vợ con chưa; Tiền án, tiền sự: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
II. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Nguyễn Quang M, Sinh ngày 05/8/2005
Địa chỉ: thôn V L, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội.
III. Ngƣời đại diện hợp pháp cho các bị cáo:
1. Ngư i đại diện hợp pháp cho bị cáo L là bà Nguy n Thị D, sinh năm 1983.
Nơi cư tr : Thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2. Ngư i đại diện hợp pháp cho bị cáo H là ông Nguy n Đình Tr, sinh 1979.
Nơi cư tr : Thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
3. Ngư i đại diện hợp pháp cho Ngư i có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và bị cáo M là ông Nguy n Viết C, sinh năm 1979.
Nơi cư tr : Thôn V L, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
IV. Ngƣời bào chữa:
1. Bà Lƣu Thị Ngọc L – Văn phòng luật sư Hà an và Cộng sự bào chữa cho bị cáo Nguy n Thanh L, và Nguy n Trung H.
2. Bà Nguyễn Thị Th – Công ty uật TNHH Thoan Nguy n bào chữa cho bị cáo các bị cáo Nguy n Quang M.
NỘI DUNG VỤ ÁN.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được
tóm tắt như sau:
Khoảng 22h00’ ngày 16/12/2022, Nguy n M Đ (sinh ngày 11/9/2004, trú tại thôn
Đạc Đ, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) đi đến quán nước Bình âm ở tổ 3, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Tại đây, Đ và Nguy n Văn Hùng (sinh năm: 2004, tr tại thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) là nhân viên của quán Bình âm nhìn nhau với ánh mắt thách thức nhưng không ai nói gì. Sau đó, Đ đi về quán nước Sunny ở khu đô thị Phù Mã, xã Phù Ninh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội gặp Nguy n Quang M (sinh ngày 05/8/2005, th i điểm thực hiện hành vi được 17 tuổi 04 tháng 11 ngày, tr tại thôn Đạc Đ, xã Ph L, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội), Đức nói cho M biết việc Đ và Hùng nhìn đểu, thách thức nhau. Nghe vậy, M bảo Đ quay lại quán nước Bình âm để tìm Hùng. Khi gặp H2, Đ hỏi “mày thích nhìn gì, có vấn đề gì không?”, Hùng trả l i “không có vấn đề gì” thì M lao vào dùng chân phải đá 2 cái vào lưng của Hùng. Thấy vậy, Nguy n Thanh L (sinh ngày 15/01/2006, th i điểm thực hiện hành vi được 16 tuổi 11 tháng 01 ngày, tr tại thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội) là nhân viên quán Bình âm vào can ngăn thì M dùng tay phải cùi trỏ vào ngực L và nói “Mày thích làm sao, mày thích thế nào?”. c này, được mọi ngư i can ngăn thì sự việc d ng lại. Đức và M đi ra ngoài, đứng ở vỉa h trước cửa quán Bình âm để ch H2 đi về thì đánh tiếp. Còn Nguy n Thanh L điều khiển xe máy về nhà lấy 01 con dao phay và 01 con dao bấm rồi rủ Nguy n Trung H (sinh ngày 16/10/2006, th i điểm thực hiện hành vi được 16 tuổi 02 tháng 0 ngày) và Nguy n Hoàng L (sinh năm 2002) cùng tr tại thôn D Th, xã T D, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đi tìm M đánh trả thù. H1 và Hoàng L đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe máy chở Thanh L ngồi giữa, Hoàng L ngồi cuối đi tìm M. Khi Nguy n Văn H2 điều khiển xe máy ra về, Đ và M điều khiển xe máy đuổi theo Hùng đến ngã tư y ban nhân dân thị trấn Sóc Sơn thuộc địa phận tổ 3, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thì đuổi kịp và chặn đầu xe của Hùng, Đ và M dùng chân tay đấm đá nhiều cái vào ngư i Hùng. Đ ng l c này, nhóm của Nguy n Thanh L đi đến, Thanh L cầm 01 con dao phay nhảy xuống xe đuổi theo và chém 03 cái vào phần lưng của M, H1 cầm con dao bấm chạy phía sau đuổi đánh M. Bị đánh, M bỏ chạy, nhảy qua tư ng rào vào sân vận động huyện Sóc Sơn để lẩn trốn. Nguy n Hoàng L không tham gia đuổi đánh M. Thanh L và H1 tiếp tục tìm đánh M nhưng không thấy nên nhóm của Thanh L đi về. Sau đó, M thuê xe taxi đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Sóc Sơn; còn Đ đến công an huyện Sóc Sơn trình báo sự việc.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao bấm màu đen.
Đối với 01 con dao phay: sau khi sử dụng để đánh nhau, trên đư ng quay về Nguy n Thanh L đã vứt bỏ con dao tại khu vực hồ ương Châu thuộc địa phận thôn ương Châu, xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về thƣơng t ch:
- Nguy n Quang M: có 02 vết thương thành ngực sau bên phải, kích thước 01x06cm, không có bọt khí ở miệng vết thương. Có 01 vết thương vùng lưng lệch trái, kích thước 10x03cm, lộ khối cơ vùng lưng, 01 vết sát da vùng lưng kích thước 6cm. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 629/K TTCT-TTP ngày 15/5/2023 của Trung tâm pháp y Hà Nội, kết luận:
1. Các kết quả chính:
1.1. Sẹo vết thương vết mổ lưng phải dưới mỏm xương vai: 02 %
1.2. Sẹo vết thương dưới cung sau xương sườn X bên phải:
02%
1.3. Sẹo vết thương vết mổ vùng lưng trái sát cột sống L1-L2: 03%
1.4. Sẹo vết thương hõm khung chậu trái:
01%
2. Kết luận:
2.1 Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Quang M tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 16/12/2022 là 08% (tám phần trăm).
2.2 Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Nguyễn Quang M do vật có cạnh sắc gây ra.
- Nguy n Văn H2: bị Đức và M dùng chân tay đánh vào ngư i và mặt. Do thương tích nhẹ nên H2 không đi khám, điều trị ở đâu. Ngày 17/12/2022, H2 có đơn t chối giám định thương tích.
- Nguy n Thanh L: bị M củi trỏ vào ngực. Do thương tích nhẹ nên Thanh L không đi khám, điều trị ở đâu. Ngày 17/12/2022, Thanh L có đơn t chối giám định thương tích.
Về trách nhiệm d n sự: Nguy n Thanh L và Nguy n Trung H1 đã tự nguyện bồi thư ng cho Nguy n Quang M tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, M không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự.
Nguy n Văn H2, Nguy n M Đức và Nguy n Thanh L không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H1, Nguy n Quang
M, Nguy n M Đức thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 210/CT-VKS ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo: Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H1 về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Truy tố Nguy n Quang M, Nguy n M Đức về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định
tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình đ ng như
nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Nay các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để tiếp tục đi học.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án
cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65;
Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H1.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Bộ luật
hình sự đối với các bị cáo Nguy n Quang M, Nguy n M Đức. (thêm khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự cho bị cáo M.)
- Xử phạt: Nguy n Thanh L mức án t 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách t 48 đến 60 tháng
- Xử phạt: Nguy n Trung H mức án t 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách t 36 đến 48 tháng
- Xử phạt: Nguy n Quang M mức án t 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách t 12 đến 18 tháng.
- Xử phạt: Nguy n M Đ mức án t 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự
công cộng”, nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách t 18 đến 24 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị cho tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn màu đen.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Án phí: Các bị cáo L, H, Đ là học sinh nên không phải chịu án phí theo quy định của
pháp luật. Bị cáo Đ phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong phần tranh luận, ngư i đại diện hợp pháp cho các bị cáo vị thành niên có ý
kiến trình bày: Các bị cáo tuổi đ i còn trẻ, hiện đang đi học, do tH hiểu biết về pháp luật, chỉ vì ham chơi nên đã dẫn bị cáo vào con đư ng phạm tội, bị cáo phạm tội cũng có lỗi một phần của cha, mẹ không quan tâm dạy dỗ chu đáo, đề nghị hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo cho bị cáo mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để các cháu có điều kiện tiếp tục đến trư ng học tập.
- Quan điểm của luật sƣ Lƣu Thị Ngọc Lan bào chữa cho bị cáo Nguy n Thanh L,
và Nguy n Trung H tại phiên tòa: Nhất trí với nội dung về tội danh mà Viện kiểm sát đã quy kết đối với bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ đối với hai bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo phạm tội mang tính bột phát giản đơn, do tH hiểu biết về pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, gia đình hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo được nhà trư ng và chính quyền địa phương xác nhận chấp hành tốt nội quy quy chế của nhà trư ng và quy định của pháp luật, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nơi cư tr , nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. T nhận định trên, ngư i bào chữa của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp nhất và cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Quan điểm của luật sƣ Nguyễn Thị Thoan bào chữa cho bị cáo Nguy n Quang M:
Nhất trí với nội dung về tội danh mà Viện kiểm sát đã quy kết đối với bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ đối với hai bị cáo, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo phạm tội mang tính bột phát giản đơn, do tH hiểu biết về pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc phạm tội, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đang là học sinh, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. T nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h,i,s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự, mi n trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo có cơ hội học tập và rèn luyện.
Sau khi tranh luận đối đáp các bị cáo, Ngư i đại diện hợp pháp cho bị cáo, uật sư bào
chữa không có ý kiến tranh luận gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ngư i nào có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án: i khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của
ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những ngư i làm chứng, biên bản hiện trư ng, sơ đồ hiện trư ng, kết luận định giá và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo về hành vi phạm tội là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, l i
khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung vụ án đã nêu ở phần trên và phù hợp với l i khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. T những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 23h00’ ngày 16/12/2022, tại tổ 3, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Nguy n M Đức, Nguy n Quang M có hành vi gây rối trật tự công cộng, truy đuổi, chặn đánh anh Nguy n Văn H2. Còn Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H1 có hành vi gây rối trật tự công cộng, sử dụng hung khí nguy hiểm (dao phay, dao bấm) đuổi đánh gây thương tích cho Nguy n Quang M với t lệ tổn hại sức khỏe là 08 . Hành vi của Nguy n M Đức, Nguy n Quang M, Nguy n Thanh L và Nguy n Trung H1 đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Hành vi của các đối tượng đuổi đánh nhau l c đêm khuya tại ngã tư y ban nhân dân
thị trấn Sóc Sơn thuộc địa phận tổ 3, thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội gây láo loạn đư ng phố, gây mất an ninh trật tự, làm ngư i dân ở hoang mang, lo sợ. Hành vi đó thỏa mãn và đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” được quy định tại Điều 318 của Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H1 có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm là dao đuổi chém nhau l c đêm khuya nên thuộc trư ng hợp nghiêm trọng “ …Dùng hung khí nguy hiểm…” là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tính chất của vụ án, nhân thân các
bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy r ng: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn; Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trư ng hợp tội phạm nghiêm trọng . Vì vậy các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đã gây ra.
Xem xét về nh n thân của từng bị cáo trong vụ án:
- Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu,
đều là ngư i có nhân thân tốt.
Riêng đối với bị cáo Nguy n Thanh L, ngoài hành vi Gây rối trật tự công cộng, thì bị
cáo lại có hành vi dùng dao phay là hung khí nguy hiểm chém ngư i gây thương tích cho Ngư i bị hại với t lệ tổn hại s c khỏe là 8 . Mặc dù không bị khởi tố nhưng với tính chất mức độ nguy hiểm do bị cáo gây ra Hội đồng xét xử thấy cần kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn xử phạt hành vi gây thương tích cho ngư i khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (vi phạm Điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội).
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm
tội lần đầu; Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Đối với bị cáo Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H, Nguy n M Đ thuộc trư ng hợp ngư i t đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với ngư i dưới 18 tuổi phạm tội cho các bị cáo; Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là những tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 99, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguy n Quang M và bị cáo Nguy n M Đ phạm tội thuộc trư ng hợp ít
nghiêm trọng là tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Nguyên Quang M gia đình bị cáo là gia đình có công với cách mạng, có
cụ ngoại là cụ Hoàng Văn T là liệt sỹ chống Mỹ cứu nước, được Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 xác nhận đã hy sinh ngày 18/2/1968. Đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đ ng chính sách, pháp luật của Nhà
nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư tr , chấp hành nội quy quy chế của nhà trư ng, các bị cáo không có tiền án tiền sự, có tinh thần tích cực hợp tác gi p cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; Các bị cáo tuổi đ i còn trẻ, đang là học sinh phổ thông trung học, hành vi phạm tội chỉ mang tính bột phát. Do vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội, áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, cũng đảm bảo sự răn đe, giáo dục, phòng ng a tội phạm và qua đó cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với ngư i chưa thành niên phạm tội. Tạo điều kiện để các bị cáo tiếp tục đến trư ng học tập và r n luyện để trở thành ngư i công dân tốt cho xã hội.
. Về trách nhiệm bồi thƣờng d n sự: Bị cáo Nguy n Thanh L và Nguy n Trung H1 cùng đại diện hợp pháp đã tự nguyện bồi thư ng cho Nguy n Quang M tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, M và đại diện hợp pháp không có yêu cầu gì khác về yêu cầu bồi thư ng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa hai bên.
- Nguy n M Đức và Nguy n Thanh L không có yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 con dao bấm màu đen thu giữ của H cho tịch
thu tiêu hủy.
- Đối với 01 con dao phay: sau khi sử dụng để đánh nhau, trên đư ng quay về Nguy n Thanh L đã vứt bỏ con dao tại khu vực hồ ương Châu thuộc địa phận thôn ương Châu, xã Tiên Dược, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về án ph : Các bị cáo L; H; M là học sinh nên không phải chịu án phí hình sự theo
quy định của pháp luật; bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91, Điều 101,
Điều 54 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguy n Thanh L, Nguy n Trung H1.
- Khoản 1 Điều 318; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 54 Bộ luật hình sự đối
với bị cáo Nguy n Quang M, Nguy n M Đức. (Thêm khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101; Bộ luật hình sự cho bị cáo M.)
- Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 135; Điều 326; 328; 331 Bộ luật tố tụng hình
sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, mi n, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Xử phạt:
- Xử phạt: Nguy n Thanh L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công
cộng”, nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 48 tháng kể t ngày tuyên án.
- Xử phạt: Nguy n Trung H 18(Mư i tám) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”,
nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 36 tháng kể t ngày tuyên án.
- Xử phạt: Nguy n Quang M 04(Bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”,
nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách 12 tháng kể t ngày tuyên án.
- Xử phạt: Nguy n M Đ 09(Chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, nhưng
cho hưởng án treo, th i gian thử thách t 18 tháng kể t ngày tuyên án.
+ Giao c¸c bÞ c¸o: Nguy n Thanh L và Nguy n Trung H cho UBND xã T D, huyện
Sóc Sơn, TP.Hà Nội giám sát giáo dục trong th i gian thử thách.
+ Giao c¸c bÞ c¸o: Nguy n M Đ và Nguy n Quang M cho UBND xã Ph L, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội giám sát giáo dục trong th i gian thử thách.
Trư ng hợp các bị cáo thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo quy định của uật thi hành án hình sự.
Trong th i gian thử thách, ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở
lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trư ng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngư i đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bấm màu đen. (Tình trạng
như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).
4. Về án phí: Bị cáo Nguy n M Đ phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo L, H, M không phải chịu án phí hình sự.
5. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo, Luật sư bào chữa và Ngư i đại diện hợp pháp của các bị cáo vị thành niên;
Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án (hoặc án được niêm yết theo quy định).
N¬i nhËn:
| -BÞ c¸o -VKSND H.Sãc S¬n - VKSND TP.Hà Nội - TAND TP.Hà Nội - C«ng an H.Sãc S¬n - THA DS H.Sãc S¬n - C¸c ® ¬ng sù - L u HS | t/m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ Lª ViÖt Hïng |