- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Huỳnh Thúy V.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 294/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24-8-2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Năm - Cán bộ hưu trí;
Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Hiệu trưởng trường tiểu học Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1018/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 276/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 351/2022/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Huỳnh Thúy V, sinh năm 1992
Địa chỉ: khu phố T, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh S, sinh năm 1991
Địa chỉ: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Chị V - có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S - Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn là chị Nguyễn Huỳnh Thúy V trình bày:
Chị và anh Nguyễn Anh S kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/12/2011. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp và không còn yêu thương nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ 04 năm nay. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 27/5/2012, Nguyễn Hoàng B sinh ngày 06/3/2016 hiện nay đang ở với chị V. Ly hôn chị V có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Tạm thời không yêu cầu anh S cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: chị V xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Anh S:
Đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị V được ly hôn với anh S; Về con chung: Giao cháu 02 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 27/5/2012, Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 06/3/2016 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết; Về án phí: chị V phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
. Về tố tụng:
. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh ngày 09/6/2022 do Công an phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cung cấp thì anh Nguyễn Anh S đang cư trú tại: khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.
. Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng chị V có đơn xin xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
. Về nội dung vụ án:
. Quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Huỳnh Thúy V và anh Nguyễn Anh S kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 182/TP-HT ngày 20/12/2011. Căn cứ vào Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình 2000, hôn nhân giữa chị V, anh S là hôn nhân hợp pháp.
Theo chị V quá trình vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, vợ chồng đã sống ly thân nhau nhiều năm. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V xin ly hôn với anh S.
Theo biên bản xác minh ngày 21/4/2022, địa phương và gia đình anh S không biết được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V, anh S nhưng xác định chị V, anh S đã sống ly thân từ năm 2016. Tòa án triệu tập để hòa giải đoàn tụ nhưng chị V đề nghị không tiến hành hòa giải, anh S vắng mặt không có lý do. Vì vậy, có cơ sở chứng minh chị V đã cương quyết ly hôn; anh S bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm, hàn gắn gia đình.
Từ những nhận định trên, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị V, anh S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho chị V được ly hôn với anh S.
. Về con chung:
Trong thời kỳ hôn nhân chị V, anh S có 02 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày 27/5/2012 và Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 06/3/2016. Ly hôn, chị V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi chị V, anh S ly thân thì cháu H, cháu B được chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đều khỏe mạnh và phát triển bình thường, đồng thời cháu Hoàng trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được ở với chị V.
Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu H, Hội đồng xét xử giao cháu H, cháu B cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm thời, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung và nợ chung: chị V xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh S không có ý kiến nên không đặt ra xem xét.
. Về án phí: Chị V phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 9, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Huỳnh Thúy V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Huỳnh Thúy V được ly hôn với anh Nguyễn Anh S.
2. Về con chung: giao cháu Nguyễn Anh H, sinh ngày 27/5/2012 và Nguyễn Hoàng B, sinh ngày 06/3/2016 cho chị Nguyễn Huỳnh Thúy V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tạm thời, anh Nguyễn Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Huỳnh Thúy V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002194 ngày 05/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đương sự đã nộp xong án phí.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân TP. B; - Chi cục thi hành án dân sự TP. B; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - UBND ND nơi cấp Giấy chứng nhận kết hôn; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Công |