vanban.org

Bản án 293

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 07/11/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị qu ết 326/2016/UBTV H14 ngà 30/12/2016 của

an Thường vụ uốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ phí T a n. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị c o D và bị cáo T.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bị cáo D và bị cáo T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị qu ết 326/2016/UBTV H14 ngà 30/12/2016 của

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

H

H

H

H

H

M

H Đ

H

Đ

–

do – H nh ph Bản án số: 293/2019/HS-PT Ngày: 07-11-2019

NHÂN DANH

ƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH

H

T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T H Đ NG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Nước

Các thẩm phán:

Ông Ngô Tấn Lợi

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngu ễn V n Tr i – Thư T a n nh n d n tỉnh Đồng Tháp.

- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thú Ái- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 n m 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án hình sự phúc th m thụ lý số: 262/2019/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 n m 2019 đối với c c ị cáo: D và T.

Do có h ng c o của ị c o ị c o D và T đối với ản n hình sự sơ th m số 26/2019/HS-ST ngày 03 tháng 9 n m 2019 của Tòa án nhân dân hu ện T.

Bị cáo có kháng cáo:

1) D, sinh n m 1975 tại Long An; Nơi cư trú: Ấp 4, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: làm thuê (c lúa); Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông C, sinh n m 1954 (chết) và bà T, sinh n m 1952; vợ Đ, sinh n m 1980; Có 02 con, lớn nhất 1998, nhỏ nhất 2015; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; bị bắt tạm giam ngày 05/4/2019, Tha đổi biện ph p ng n chặn tạm giam bằng bảo lĩnh ngà 19/6/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2) T (tên gọi khác: C), sinh n m 1987 tại Đồng Th p; Nơi cư trú: Ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông H, sinh n m 1936 (chết) và bà L, sinh n m 1942 (chết); vợ Q, sinh n m 1983 và có 01 con, sinh n m 2016; chị, em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ 04; Tiền án: Ngày 20/5/2011 bị Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 04 n m tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành hình phạt xong ngà 05/12/2014, chưa thi hành xong các khoản khác của bản án; tiền sự: hông; Nh n th n: chưa; ị bắt tạm giam ngà 04/4/2019, Tha đổi biện ph p ng n chặn tạm giam bằng bảo lĩnh ngà 14/6/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án có bị cáo P và bị hại không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

Th o c c tài liệu có trong hồ sơ vụ n và diễn iến tại phiên t a, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Bị cáo D làm nghề c lúa, hưởng hoa hồng, nhưng do muốn có tiền, nên D nảy sinh định chiếm đoạt tiền của những người mua lúa, bị cáo D điện thoại cho bị cáo P và bị cáo T bàn bạc kêu P, T nói là có đất ruộng làm lúa tại xã H, huyện T, để người mua lúa đặc cọc tiền lúa, để D lấy tiền trả nợ cho P 23.000.000 đồng và cho tiền T tiêu sài, nên cả hai đồng ý.

Đến ngày 11/10/2018, D kêu ông H đến xã H để xem và mua lúa vụ Đông xu n của một số hộ dân. Ông H cùng với anh Nguyễn Quốc T1 đến, thì D giới thiệu 02 người bán lúa tên Ngô Quốc P (tên thật P) và Nguyễn Trí C (tên thật T), cả hai nói có diện tích 170 công ở ô bao số 51, thuộc Hợp tác xã H, ấp 5, xã H, huyện T, rồi tất cả đến địa điểm để x m lúa, hi đó D và P chỉ đất ruộng của ông K nói là đất của P và tiếp tục đi hoảng 01 m đến đất ruộng của X nói đất của T.

Sau khi xem xong, thì tất cả đến quán cà phê thuộc ấp 5, xã H, huyện T làm hợp đồng, lúc này P khai tên Ngô Quốc P, ngụ ấp V, xã V, còn T khai tên Nguyễn Trí C, ngụ ấp 1, xã T, diện tích mỗi người là 170 công, giống lúa 5451, gi n 5.000đ/ g, ông H ký tên bên mua, còn P, T ký tên bên bán, D chứng kiến, rồi ông H đưa tiền cọc cho P 70.000.000 đồng, nhận tiền xong P chạy xe một đoạn thì điện thoại cho D đến nhận 47.000.000 đồng (trừ 23.000.000 đồng tiền đ mượn của P). Ông H tiếp tục đưa T 50.000.000 đồng, do hết tiền nên H, D và T đến Ng n hàng để rút thẻ ATM đưa thêm 20.000.000 đồng. Sau khi ông H và T1 về thì T đưa cho D 70.000.000 đồng, D đưa lại T 3.000.000 đồng tiêu xài, T xin thêm 1.000.000 đồng nhưng D hông đồng ý.

Đến ngày 14/10/2018, D, T kêu P1 (chưa x c định họ và địa chỉ cụ thể) nói có đất ruộng để chiếm đoạt tiền của ông H. Tại ấp 4, xã H thì D giới thiệu cho ông H là P1 có lúa 5451 diện tích 35 công, gi 4.900 đ/ g. Do tin tưởng nên ông H hông x m đất mà làm hợp đồng luôn với P1 và đặt cọc số tiền 14.000.000 đồng, lúc này P1 khai tên Nguyễn Thị Thùy P1, ngụ ấp 1, xã T, huyện T.

Ngày 30/10/2018, ông H qua xem lúa thì phát hiện D, P, T, P1 hông ai có đất ruộng để bán lúa, nên làm đơn tố giác.

Ngoài ra với thủ đoạn như trên, ản thân bị cáo D đ chiếm đoạt tiền của các bị hại h c như sau:

1) Ông Lê V n Đ thông qua ông Nguyễn V n T2 (không rỏ địa chỉ) giới thiệu đến D để mua lúa, nên ngày 22/4/2018Al, D nói có 300 công đất tại xã V, huyện T lúa mới sạ khoảng 01 tháng, loại lúa OM4900, gi n 5.200 đ/ g, cả hai đến x m đất thì D chỉ đất của người khác, rồi cả hai về nhà của D làm hợp đồng và Đ đặt cọc 90.000.000 đồng, hẹn đến khi nào thu hoạch sẽ trả đủ số tiền còn lại. Đến ngày 25/6/2018Al gần thu hoạch lúa, D điện thoại nói bể đê nên cắt lúa xanh, không có lúa giao nên trả tiền cọc, Ông Đ đồng ý và biết bị lừa đảo và đ đ i nhiều lần đến khoảng tháng 12/2018Al thì D trả được 40.000.000 đồng, đến ngày 10/4/2019 ông Đ làm đơn gửi đến Công an Huyện.

2) Ông Võ V n B liên hệ với D để mua lúa. D nói có 380 công đất tại xã T, huyện T, nên B hẹn D gặp tại c x ng “U” thuộc ấp T, xã T, huyện T để đặt cọc 10.000.000 đồng, sau hi đặt cọc xong, trên đường về thông qua người quen thì ông B phát hiện D hông có đất ở T nên yêu cầu hủy hợp đồng và đ i tiền cọc lại, nên D đ làm biên nhận nhận nợ và đ trả xong cho ông B trong qu trình điều tra.

3) Ông Nguyễn Anh T3 giới thiệu cho ông Bùi V n Đ1 là bị cáo D có 245 công đất tại xã T, huyện T, nên ông Đ1 liên hệ gặp D. Ngày 22/11/2018 (nhằm ngày 16/10/2018Al), ông Đ1 cùng ông Nguyễn Thành T4 đến gặp D và cùng đi x m lúa tại xã T, lúc đó D chỉ đất lúa của người h c nói là đất lúa của D và em của D, nên ông T4 hợp đồng và đặt cọc 20.000.000 đồng. Sau đó vài ngà thì D êu đặt cọc thêm 120.000.000 đồng nhưng ông Đ1 và ông T4 hông d m đưa, thấy vậy nên ông T3 kêu ông Đ1 ký nhận số tiền 130.000.000 đồng từ ông T4 đưa cho T3, rồi T3 làm biên nhận 150.000.000 đồng giao lại cho ông Đ1 và T4 (gồm luôn tiền 20.000.000 đồng mà ông T4 đ đưa cho D, xem như tiền cọc mà ông T4 đ đưa là của T3). Sau khi nhận tiền thì T3 làm hợp đồng với với D và đưa tiền cọc 120.000.000 đồng tại ấp 4, xã H, huyện T.

Sau đó, do D điện thoại cho ông T3 êu đặt cọc thêm 175.000.000 đồng để bán thêm 130 công lúa, nên ngày 28/11/2018 ông T3 cùng ông Đ1 và ông T4 mang tiền đến xã H để gặp D đưa thêm tiền cọc nhưng gặp anh T4 (nhà ở Tân H, hông x c định địa chỉ, cũng làm c lúa) đưa hợp đồng mua bán lúa với D, nên khi D đến thì kêu D lên xe và chở đến Công an huyện trình báo.

Ngày 28/01/2019, D kêu ông T3 cân lúa của bà N được 120 tấn để trừ cọc và T3 đ hấu trừ tiền chênh lệch gi 72.000.000 đồng cho D (D mua lúa bà N 5.500 đ/ g, còn T3 mua của D 6.200 đ/ g), D còn nợ ông T3 48.000.000 đồng, đến ngày 18/4/2019 D làm thỏa thuận trả cho ông T3 8.000.000 đồng, nên chỉ nợ 40.000.000 đồng (Phần tiền cọc 20.000.000 đồng của T4 giao qua cho T3 thì D đ trả xong trước khi khởi tố vụ án).

4) Ngày 04/4/2019 (nhằm ngày 30/02/2019Al) ông Nguyễn V n Đ2 gặp D và D nói có 300 công đất tại xã Thạnh Lợi, nên ông Đ2 đặt cọc tiền lúa 5.000.000 đồng. Đến ngày 05/4/2019 ông Đ2 gặp D làm hợp đồng và đặt cọc thêm 85.000.000 đồng, sau khi đưa tiền thì Đ2 phát hiện bị lừa nên làm đơn gửi Công an Huyện.

Tại bản án hình sự sơ th m số: 26/2019/HS-ST ngày 03/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện T đ xử:

C n cứ điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52; c c điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt D: 07 n m tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành n nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngà 05/4/2019 đến 19/6/2019.

- C n cứ điểm b khoản 2 Điều 174; Điều 17; điểm h khoản 1 Điều 52; c c điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt T: 03 n m 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành n nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngà 04/4/2019 đến 14/6/2019.

- C n cứ điểm b khoản 2 Điều 174; Điều 17; c c điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt P: 02 n m tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 4 n m kể từ ngà tu ên n sơ th m.

Giao bị cáo P cho UBND xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử th ch. Trong trường hợp người được hưởng n tr o tha đổi nơi cư trú thì thực hiện th o qu định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử th ch, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đ cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự : C n cứ c c điều 587, 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc ị c o D phải có tr ch nhiệm trả cho: Ngu ễn V n H 70.000.000 đồng; Ngu ễn Anh T3 40.000.000 đồng; Lê V n Đ 50.000.000 đồng; Ngu ễn V n Đ2 90.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06/9/2019 bị cáo T và ngày 16/9/2019 bị cáo D có đơn h ng c o với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu: Tòa án cấp sơ th m xử các bị cáo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; giai đoạn phúc th m các bị cáo không cung cấp được những tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của 02 bị cáo; giữ nguyên bản án hình sự sơ th m.

Bị cáo D trình bày: Bị cáo chỉ xin lỗi các bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo T trình bày: Bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt do có con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình gặp hó h n.

C n cứ vào các chứng cứ, tài liệu đ được th m tra tại phiên tòa phúc th m; c n cứ vào kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở x m xét đầ đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo.

H Đ H

Trên cơ sở nội dung vụ n, c n cứ vào c c tài liệu trong hồ sơ vụ n đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo D và T đ hai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản n sơ th m đ xét xử đối với các bị c o như sau: Nhằm mục đích chiếm đoạt tiền đặt cọc của những người mua lúa, bị c o đ lừa dối những người bị hại là mình có lúa ruộng muốn bán trong khi các ruộng lúa mà các bị cáo chỉ cho những người bị hại không phải là ruộng lúa của các bị c o để những người bị hại tin tưởng giao tiền đặt cọc cho các bị cáo, thực tế các bị c o cũng đ hông có lúa để giao cho những người bị hại và chiếm đoạt số tiền đặt cọc của những người bị hại cụ thể như sau: Các bị cáo D, T cùng chiếm đoạt của ông H 70.000.000 đồng; Các bị cáo D, P cùng chiếm đoạt của ông H 70.000.000 đồng; Bị cáo D chiếm đoạt của ông H 14.000.000 đồng, ông Đ 50.000.000 đồng, ông T3 50.000.000 đồng, ông Đ2 90.000.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị c o đ vi phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

[2] Xét êu cầu h ng c o xin giảm nhẹ hình phạt của c c ị c o D và T, Hội đồng xét xử xét thấy: T a n cấp sơ th m đ xét xử đối với ị c o D và ị c o T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội và đúng ph p luật. Mức hình phạt mà n sơ th m đ tu ên là phù hợp với tính chất, mức độ ngu hiểm của hành vi phạm tội do ị c o g ra và đ c n nhắc, x m xét nh n th n và c c tình tiết giảm nhẹ cho ị c o. Bị c o h ng c o xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên t a các ị c o hông xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử hông chấp nhận êu cầu xin giảm nhẹ hình phạt của các ị c o

[3] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Do yêu cầu kháng cáo của các bị c o hông được chấp nhận, nên các bị c o phải chịu án phí hình sự phúc th m.

Các phần còn lại của Bản án hình sự sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Q YẾ Đ H:

C n cứ điểm a hoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015; Nghị qu ết 326/2016/UBTV H14 ngà 30/12/2016 của

an Thường vụ uốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ phí T a n.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị c o D và bị cáo T.

Giữ nguyên Quyết định của bản án hình sự sơ th m số 26/2019/HSST ngày 03 th ng 9 n m 2019 của Tòa án nhân dân huyện T về hình phạt.

- C n cứ điểm a khoản 3 Điều 174; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52; c c điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Tuyên bố bị cáo D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt D: 07 n m tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành n nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngà 05/4/2019 đến 19/6/2019.

- C n cứ điểm b khoản 2 Điều 174; Điều 17; điểm h khoản 1 Điều 52; c c điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

Tu ên ố ị c o T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt T: 03 n m 06 th ng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngà ắt đi chấp hành n nhưng được trừ đi thời gian tạm giam từ ngà 04/4/2019 đến 14/6/2019.

C c phần h c của qu ết định ản n sơ th m hông có h ng c o, h ng nghị có hiệu lực ể từ ngà hết thời hạn h ng c o, h ng nghị.

Về n phí phúc th m:

C c ị c o D và T mỗi ị c o phải nộp 200.000 đồng n phí hình sự phúc th m;

Bản n phúc th m có hiệu lực ph p luật ể từ ngà tu ên n.

Cỡ chữ