vanban.org

Bản án 293/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Mùi N được ly hôn với anh Liệu Văn Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, cấp ngày 03 tháng 3 năm 2020 cho chị Lò Mùi N và anh Liệu Văn Th không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật. Về con chung: Giao cháu Liệu Văn D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2016 cho anh Liệu Văn Th trự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Mùi N - Liệu Văn Th"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Mùi N được ly hôn với anh Liệu Văn Th.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 293/2023/HNGĐ-ST
Ngày 26/9/2023
“Về việc tranh chấp hôn nhân gia đình giữa
Chị Lò Mùi N và anh Liệu Văn Th ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Cao Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Vân Anh.

2. Ông Hoàng Văn Thiết.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Hường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 42/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lò Mùi N, sinh năm 1998.

HKTT: Thôn L, xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã P, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.

* Bị đơn: Anh Liệu Văn Th, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Thôn Làng Ẻn, xã Bạch Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

(Chị N có đơn xin vắng mặt tại phiên toà; anh Th vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn, chị Lò Mùi N trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị và anh Liệu Văn Th có quan hệ hôn nhân hợp pháp, cả hai được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn. Khi kết hôn có tổ chức cưới hỏi theo phong tục vào năm 2016 và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện H ngày 03 tháng 3 năm 2020. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại thôn L, xã B, huyện H. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến tháng 5/2020 thì xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi chửi nhau, anh Th thường xuyên say rượu, chửi bới doạ dẫm chị; mâu thuẫn của hai vợ chồng đã được hai bên gia đình hoà giải. Chị và anh Th đã sống ly thân từ tháng 12/2020 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm. Đến nay chị xác định vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, không thể quay về chung sống, tình cảm vợ chồng không còn. Nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Liệu Văn Th.

Về con chung: Chị Lò Mùi N xác định chị và anh Liệu Văn Th có 02 con chung, cháu Liệu Văn D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2016; cháu Liệu Thị Linh Ch, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2020. Từ khi chị và anh Th sống ly thân, cháu D do anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Ch do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị đề nghị được là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ch, anh Thành trực tiếp nuôi dưỡng cháu D; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị Lò Mùi N xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có vay nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo gọi anh Liệu Văn Th đến để viết bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Th đều không có mặt. Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tiến hành xác minh tại thôn L, xã B, huyện H và xác minh đối với bà Trần Thị S là mẹ đẻ của anh Th. Kết quả xác minh thể hiện, anh Th hiện nay có nơi cư trú tại thôn L, xã B, anh Th hiện đi làm ăn xa, nghỉ thứ 7, chủ nhật có về nhà tại thôn L, xã B; anh Th và chị N được tự do tìm hiểu, tự nguyện đến với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Cuộc sống chung của anh chị thời gian đầu hạnh phúc, cách đây khoảng hai năm anh chị xảy ra mâu thuẫn, chị N đưa con gái về nhà bố mẹ để ở xã Ph, huyện H sống, anh Th cùng con trai ở với bố mẹ anh Th; gia đình bà S có nhận được các văn bản, tài liệu của Tòa án và đã thông báo cho anh Th biết nhưng anh Th nói chị N làm đơn chị N tự giải quyết, anh sẽ không đến Tòa. Anh Th và chị N có hai người con chung, cháu Liệu Văn D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2016 đang ở với anh Th và gia đình bà S; cháu Liệu Thị Linh Ch, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2020 hiện đang ở với chị N; khi anh Th đi làm thì nhờ bố mẹ anh Th chăm sóc, nuôi dưỡng cháu D, cháu D được đi học đầy đủ; chị N và anh Th không có tài sản chung, vay nợ của vợ chồng không thấy có thông tin gì.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho chị Lò Mùi N được ly hôn với anh Liệu Văn Th; về con chung: Giao cháu Liệu Văn D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2016 cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng; giáo cháu Liệu Thị Linh Ch, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2020 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; anh Th và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Các nội dung về tài sản chung, vay nợ chung ý kiến trình bày của chị N không có tài sản chung, không có vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết; chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, anh Th không phải nộp án phí; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và ý kiến của chị Lò Mùi N, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Mùi N và anh Liệu Văn Th tự nguyện kết hôn với nhau trên cơ sở tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại UBND xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, ngày 03 tháng 3 năm 2020. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng. Hiện nay chị N và anh Th đã ly thân, vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Th không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không tồn tại gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lò Mùi N, xử cho chị N được ly hôn với anh Liệu Văn Th.

Về con chung: Chị Lò Mùi N và anh Liệu Văn Th có 02 con chung, cháu Liệu Văn D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2016; cháu Liệu Thị Linh Ch, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2020, từ khi anh Th và chị N sống ly thân, cháu D do anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh Th đã đi làm gửi bố mẹ đẻ trông nomm chăm sóc; cháu Ch do chị N trực tiếp nuôi dưỡng; nên đủ cơ sở chấp nhận đề nghị của chị N, giao cháu D cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Ch cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; anh Th và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, đất đai, công nợ chung: Chị Lò Mùi N xác định vợ chồng không có tài sản, đất đai chung không đề nghị Toà án giải quyết; vợ chồng không có vay nợ chung; không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Liệu Văn Th vắng mặt không có lý do, Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên đã tiến hành xác minh nơi cư trú và các mối quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung, quan hệ tài sản, đất đai, vay nợ chung của chị N và anh Th, cũng như đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đảm bảo đúng với các quy định của pháp luật. Kết quả xác minh đã thể hiện anh Th có nơi cư trú tại thôn L, xã B, huyện H, anh Th đi làm nhưng cuối tuần vẫn về nhà. Các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và xác minh của Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng với các quy định của pháp luật về việc giải quyết vụ án trong trường hợp một bên đương sự vắng mặt.

Tại phiên toà chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, việc đề nghị được vắng mặt tại phiên toà của chị N không trái với các quy định của pháp luật.

Về án phí: Chị Lò Mùi N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; anh Liệu Văn Th không phải nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 2, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lò Mùi N được ly hôn với anh Liệu Văn Th.

Giấy chứng nhận kết hôn số 04 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, cấp ngày 03 tháng 3 năm 2020 cho chị Lò Mùi N và anh Liệu Văn Th không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Liệu Văn D, sinh ngày 09 tháng 10 năm 2016 cho anh Liệu Văn Th trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục; giao cháu Liệu Thị Linh Ch, sinh ngày 05 tháng 12 năm 2020 cho chị Lò Mùi N trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Anh Th và chị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chưa có yêu cầu; anh Th và chị N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lò Mùi N phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2021/0005761 ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Anh Liệu Văn Th không phải nộp án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ