- Tranh chấp gì? án hình sự — "Wu Yong C - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo u ong C, giữ nguyên bản án s thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 293/2021/HSPT Ngày: 30/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tồn
Các thẩm phán:
Ông Đặng Kim Nhân
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng, Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 305/2021/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2021 đối v i b cáo u ong C về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo điểm a khoản 3 Điều 348 của Bộ luật Hình sự 2015. Do có kháng cáo của b cáo đối v i Bản án hình sự s thẩm số 26/2021/HS-ST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
B cáo kháng cáo: WU YONG C, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1990 tại Trung Quốc; N i cư trú: Trung Quốc; Nghề nghiệp: Đầu bếp; Dân tộc: Hán; Gi i tính: Nam; Quốc t ch: Trung Quốc; Tôn giáo: Không; Con ông u ong Z (s) và bà Lin Qiong H (s); Có vợ là u Xiao H và có 02 con: con l n sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Có hành vi “Gây trở ngại cho công tác quản lý thẻ tín dụng ngân hàng” b Công an huyện H, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ra lệnh tạm giam hình sự và Truy nã. B cáo b bắt tạm giam từ ngày 16/9/2020. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Phạm Ngọc H và ông Nguyễn Thế A, Luật sư Văn phòng luật sư Đ, Đoàn luật sư thành phố Đà Nẵng. Đ a chỉ: thành phố Đà Nẵng. có mặt
- Người phiên dịch: Bà Dư ng Minh T - Cộng tác viên tiếng Trung Quốc của Trung tâm phục vụ đối ngoại, Sở ngoại vụ thành phố Đà Nẵng. có mặt
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Cao Nguyễn Hồng L nhưng bị cáo không kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ s vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 17/7/2020, các c quan chức năng Công an thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính khách sạn E tại 55-57 đường L, phường A, quận S, Tp Đà Nẵng phát hiện 27 người Trung Quốc cư trú bất hợp pháp gồm: u Pei Q, Wu Pei Q, Wang Yang K, Xu Zhi N, Gao Ru Y, Gao Tian W, Su Jin C, Wei Li F, Huang Yin L, Wu Jian Q, Wang Jiang F, Li Zi L, Xie F, Zhan Yu H, Wu Jia J, Liu X, Lin Jing C, Guo Xin R, Chen Mu S, Wang Zhen S, Chen Cheng X, Wang Ping P, Wang Wen C, Chen Shan H, Huang Jian Y, Lian H và Huang Shi M.
Ngày 30/7/2020 Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an Tp Đà Nẵng có công văn số 735 xác đ nh 27 đối tượng người Trung Quốc nêu trên không có thông tin nhập cảnh trong hệ thống quản lý Xuất nhập cảnh - Bộ Công an.
Qua điều tra xác đ nh:
Ngày 20/11/2019, Cao Nguyễn Hồng L nhờ ch Lê Th L1 L1 đứng tên ký hợp đồng thuê khách sạn E tại 55-57 đường L, phường A, quận S, Tp Đà Nẵng v i Công ty TNHH Thư ng mại và d ch vụ T do ông Nguyễn Đình L làm giám đốc, đồng thời L mở nhà hàng H tại khách sạn E để hoạt động kinh doanh ăn uống. Mọi hoạt động khách sạn E, nhà hàng H đều do L quản lý, điều hành.
Ngoài ra L còn mở thêm 01 tiệm Massage tên M Spa tại quận S, Tp Đà Nẵng và thuê ch Thái Th Ngọc A làm quản lý.
Vì tình hình kinh doanh khách sạn E gặp khó khăn do ảnh hưởng của d ch Covid 19, nên trong thời gian từ ngày 29/6/2020 đến ngày 17/7/2020 Cao Nguyễn Hồng L đã cùng v i u ong C tổ chức cho 19 người Trung Quốc và riêng L tự tổ chức cho 08 người Trung Quốc khác đến ở trái phép tại khách sạn E, thu lợi bất chính v i tổng số tiền 92.900.000 đồng, cụ thể:
Đối v i nhóm 19 người Trung Quốc do Cao Nguyễn Hồng L và u ong C tổ chức ở lại:
Khoảng tháng 6/2020, u ong C nhập cảnh Việt Nam trái phép và đến Đà Nẵng ở cùng Gao Liang G. Quá trình sinh sống tại Đà Nẵng, u ong C thường xuyên đến nhà hàng H ăn uống nên quen biết v i Cao Nguyễn Hồng L và nảy sinh quan hệ tình cảm v i ch Thái Th Ngọc A (là nhân viên của L).
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2020 đến ngày 11/7/2020, Gao Liang G đã thông qua 02 đối tượng không rõ lai l ch có tài khoản echat là "Động" và “Đại Soái" tổ chức cho 19 đối tượng Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam trái phép và di chuyển đến Đà Nẵng ở tại nhiều n i không xác đ nh đ a chỉ để đánh bạc cho Gao Liang G. Đến tối ngày 11/7/2020, khi lực lượng chức năng tổ chức kiểm tra lưu trú người nư c ngoài trên đ a bàn thành phố Đà Nẵng, thì Gao Liang G thông báo cho các đối tượng Trung Quốc nhập cảnh trái phép di chuyển ra khu vực bờ biển Đà Nẵng để tránh b phát hiện. Tại đây, u ong C gặp nói v i Gao Liang G là khách sạn E có thể cho lưu trú mà không cần có giấy tờ hợp pháp nên Gao Liang G nhờ u ong C sắp xếp cho số người của Gao Liang G đến ở. u ong C sử dụng tài khoản mạng echat có tên “Chu Jian" (ID we2123147) liên hệ v i L thông qua tài khoản echat "nhà hàng H" (ID Mongspal23) hỏi thuê 07 phòng cho số người Trung Quốc trên ở lại, thì được L đồng ý v i giá 700.000đồng/01 ngày/01 phòng.
Sau khi L đồng ý thì u ong C và Gao Liang G đến khách sạn E, thỏa thuận v i L thuê 04 phòng cho 11 người đến khách sạn trư c, Gao Liang G trả cho L 2.800.000 đồng, còn 08 người đến sau trong đó có u Pei Q được Gao Liang G nhờ tự liên hệ xếp phòng cho số người này. Khi số đối tượng Trung Quốc đến khách sạn thì L yêu cầu ch Phạm Th Nhung là lễ tân khách sạn lấy thẻ phòng, dẫn khách lên phòng mà không làm thủ tục đăng ký tạm trú. L sắp xếp 19 người Trung Quốc ở tại 07 phòng gồm 505, 602, 603, 605, 606, 804, 903.
Tiếp đó L lập nhóm echat "602-606" gồm tài khoản echat của L, nhân viên khách sạn, u ong C và u Pei Q để thuận tiện cho việc liên hệ phục vụ số khách Trung Quốc. Các đối tượng Trung Quốc lưu trú tại khách sạn khi có yêu cầu v i khách sạn thì thông qua u ong C phản ánh lại v i L trong nhóm chat “602-606". Gao Liang G giao tiền cho u Pei Q chi trả tiền thuê phòng khách sạn và tiền ăn của 19 đối tượng Trung Quốc này.
Đối v i nhóm 08 người Trung Quốc do Cao Nguyễn Hồng L tổ chức ở lại. Ngày 29/6/2020, L cho nhóm 03 người Trung Quốc gồm ang Zhen S, Chen Cheng X và ang Ping P đến khách sạn E thuê phòng 802 v i giá 12.000.000 đồng/01 tháng.
Tối cùng ngày L cho 02 người Trung Quốc là ang en C và Chen Shan H thuê phòng 806 v i giá 12.000.000 đồng/01 tháng. Trưa ngày 01/7/2020, L cho 02 người Trung Quốc là Huang Jian Y và Lian H thuê phòng 701 và 702 v i giá 12.000.000đồng/01 tháng/01 phòng. Tối ngày 11/7/2020, L cho 01 người Trung Quốc tên Huang Shi M thuê phòng 404 v i giá là 500.000đồng/01 ngày và trả tiền theo từng ngày. Số người Trung Quốc này đều thông qua một số đối tượng không rõ lai l ch tổ chức nhập cảnh Việt Nam trái phép và di chuyển đến khách sạn E để cư trú bất hợp pháp.
Đến sáng ngày 17/7/2020, biết Lực lượng chức năng kiểm tra khách sạn, nên u ong C nhắn tin vào nhóm echat "602-606" v i nội dung “hãy sắp xếp người của tôi" v i mục đích yêu cầu L thông báo cho 19 đối tượng Trung Quốc chạy trốn. Sợ b phát hiện số khách Trung Quốc cư trú bất hợp pháp tại khách sạn, L đã yêu cầu nhân viên mở cửa sân thượng khách sạn để đưa các đối tượng Trung Quốc trốn tránh, nhưng b Lực lượng chức năng Công an Tp Đà Nẵng phát hiện lập biên bản như trên.
Tại B n án hình s s thẩm s 26/2021/HS-ST ngày 26/3/2021, Tòa án nhân dân thành ph Đà N ng đã quy t định:
Tuyên bố b cáo Wu Yong C phạm tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép”.
Căn cứ vào Điểm a khoản 3 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Wu Yong C mức án: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 16/9/2020.
Ngoài ra, bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần hình phạt đối v i b cáo Cao Nguyễn Hồng L nhưng b cáo không kháng cáo; không b kháng cáo kháng ngh ; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 09/4/2021, b cáo u ong C có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm b cáo u ong C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản án s thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử b cáo về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên b cáo cho rằng mức án s thẩm xử phạt b cáo như vậy là nặng, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên tòa có quan điểm giải quyết vụ án như sau: Đ n kháng cáo của b cáo u ong C đúng chủ thể, trong hạn luật đ nh nên đảm bảo hợp lệ. Về nội dung: Án s thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử b cáo về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. B cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tuy nhiên xét thấy cấp s thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho b cáo được hưởng, xử phạt b cáo tù 8 năm 6 tháng là phù hợp, không nặng. Sau khi xử s thẩm b cáo cũng không có tình tiết giảm nhẹ nào m i. Vì vậy ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b cáo, giữ y án s thẩm.
Luật sư bào chữa cho b cáo u ong C: Thống nhất về tội danh như án sự thẩm, nhưng đề ngh HĐXX xem xét phân hóa vai trò mục đích động c phạm tội cũng như vai trò của b cáo trong vụ án, trong vụ án này b cáo chỉ giữ vai trò đồng phạm không được ăn chia và hưởng lợi gì h n nữa b cáo là người nư c ngoài không am hiểu pháp luật Việt Nam, hoàn cảnh điều kiện gia đình b cáo rất khó khăn nên đề ngh HĐXX xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi; tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa b cáo u ong C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của b cáo phù hợp v i các tài liệu, chứng cứ có tại hồ s vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có c sở khẳng đ nh:
Trong khoảng thời gian từ ngày 29/6/2020 đến ngày 17/7/2020, để có tiền chi phí cho hoạt động của khách sạn, Cao Nguyễn Hồng L đã câu kết v i u Yong C tổ chức cho 27 người Trung Quốc không có giấy tờ, th thực nhập cảnh Việt Nam trái phép đến ở lại khách sạn E tại 55-57 đường L, phường A, quận S, Tp Đà Nẵng trái phép thu lợi bất chính 92.900.000 đồng.
V i hành vi trên tại bản án s thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã xét xử b cáo u ong C về tội “Tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép” theo điểm a khoản 3 Điều 348 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo u ong C thì thấy: B cáo u ong C là người Trung Quốc, bản thân b cáo biết rõ việc qua lại biên gi i giữa các quốc gia đều đang được quản lý hết sức nghiêm ngặt để phòng chống d ch Covid, có rất nhiều Quốc gia đã thông báo không cho người nư c ngoài nhập cảnh vào lãnh thổ của nư c mình để ngăn chặn tình hình lây lan của d ch bệnh, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, b cáo là một trong những mắt xích quan trọng, làm cầu nối, liên lạc v i đồng phạm để tổ chức cho những người khác mang quốc t ch Trung Quốc ở lại Đà Nẵng, Việt Nam trái phép. Hành vi phạm tội của các b cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nư c Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh và ở lại, lưu trú lại Việt Nam trái phép. Đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến vấn đề an ninh quốc gia, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật Việt Nam. Mặt khác, b cáo u ong C còn có nhân thân xấu, đã từng “Gây trở ngại cho công tác quản lý thẻ tín dụng ngân hàng” b Công an huyện Hàng Đường, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc ra lệnh tạm giam hình sự và Truy nã nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội ở một Quốc gia khác. Do vậy, đối v i b cáo cần xử phạt nghiêm, cấp s thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của b cáo. Đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà b cáo được hưởng, xử phạt b cáo mức án 08 năm 06 tháng tù là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các b cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết gì m i. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các b cáo cũng như quan điểm của các luật sư, giữ nguyên mức án s thẩm như đề ngh của Đại diện Viện kiểm sát.
Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, không b kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Về án phí: Do kháng cáo của b cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên b cáo ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của b cáo u ong C, giữ nguyên bản án s thẩm.
Căn cứ vào Điểm a khoản 3 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Wu Yong C mức án: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam, ngày 16/9/2020.
2. Về án phí: B cáo u ong C phải ch u 200.000 đồng án phí Hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao – Vụ 1; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Công an thành phố Đà Nẵng; - Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng; - Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; - Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng; - B cáo, người bào chữa cho b cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ s vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Tồn |