- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lâm Thị Thùy Tiên được ly hôn với ông Danh Hoàng."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Thùy Tiên được ly hôn với ông Danh Hoàng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CẦN THƠ —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 292/2026/HNGĐ-ST Ngày 12/8/2026 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Thanh Nhanh
Ông Nguyễn Thanh Rực
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Trung Thông - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 461/2026/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 618/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Thùy Tiên, sinh ngày 15/3/1992; Địa chỉ: ấp Phú Đức, xã Long Phú, thành phố Cần Thơ; CCCD số xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 26/8/2022. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Danh Hoàng, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp Phú Đức, xã Long Phú, thành phố Cần Thơ; Số định danh: xxxxxxxxxxxx. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lâm Thị Thùy Tiên trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2017, bà Tiên và ông Hoàng kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã Long Phú, thành phố Cần Thơ). Trong thời kỳ hôn nhân ông bà chung sống hạnh phúc với nhau, nhưng về sau bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn vì tính tình vợ chồng không còn hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Tiên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Hoàng.
Về con chung: bà Tiên và ông Hoàng xác định có 03 người con chung là Danh Hoàng Phong (nam, sinh ngày 20/6/2013), Danh Hoàng Phát (nam, sinh ngày 11/5/2015) và Danh Thị Thúy Hằng (nữ, sinh ngày 20/01/2017), hiện cháu Phong do ông Hoàng trực tiếp nuôi dưỡng còn cháu Phát và cháu Hằng do bà Tiên trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, bà Tiên đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Phát và cháu Hằng còn cháu Phong thì đồng ý giao cho ông Hoàng trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Hoàng cấp dưỡng nuôi con chung, bà Tiên cũng không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tiên tự trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn là ông Danh Hoàng đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Tại phiên tòa, bị đơn là ông Danh Hoàng đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan nên căn cứ Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn Hoàng.
. Bà Lâm Thị Thùy Tiên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và nuôi con với ông Danh Hoàng có nơi cư trú tại xã Long Phú, thành phố Cần Thơ nên quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con và Tòa án nhân dân Khu vực 9-Cần Thơ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tiên với ông Hoàng kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã Long Phú, thành phố Cần Thơ) vào năm 2017, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và tại thời điểm kết hôn bà Tiên và ông Hoàng không vi phạm điều cấm kết hôn. Vì vậy, hôn nhân giữa bà Tiên với ông Hoàng là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Trong thời gian đầu chung sống, thì bà Tiên và ông Hoàng sống rất hạnh phúc, nhưng về sau bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Từ đó cho thấy, bà Tiên và ông Hoàng đã không còn tình nghĩa vợ chồng, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau nên đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc hàng ngày trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân Gia đình.
Xét thấy, thực trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa bà Tiên và ông Hoàng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn hay hòa giải được nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Tiên.
. Về con chung: Xét thấy, cháu Danh Hoàng Phát và cháu Danh Thị Thúy đang sống chung với bà Tiên, được chăm sóc và giáo dục trong điều kiện tốt nhất, hiện đang sống ổn định và phát triển về mọi mặt, đã quen với điều kiện môi trường sống, cũng như nguyện vọng của các muốn sống chung với mẹ, còn cháu Phong đang do ông Hoàng trực tiếp nuôi dưỡng, bà Tiên cũng đồng ý giao cho ông Hoàng tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Phong cho ông Hoàng còn cháu Phát và cháu Hằng cho bà Tiên là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Hoàng và bà Tiên không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Tiên không yêu cầu, ông Hoàng cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ông Hoàng và bà Tiên có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tiên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Về án phí sơ thẩm: Bà Tiên phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tố tụng cũng như quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Thùy Tiên được ly hôn với ông Danh Hoàng.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Danh Hoàng Phát (nam, sinh ngày 11/5/2015) và Danh Thị Thúy Hằng (nữ, sinh ngày 20/01/2017) cho bà Lâm Thị Thùy Tiên là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình.
Giao cháu Danh Hoàng Phong (nam, sinh ngày 20/6/2013) cho ông Danh Hoàng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình.
Bà Lâm Thị Thùy Tiên và ông Danh Hoàng đều không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Lâm Thị Thùy Tiên và ông Danh Hoàng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bà Lâm Thị Thùy Tiên và ông Danh Hoàng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Thùy Tiên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lâm Thị Thùy Tiên phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011336 ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Thi hành án Dân sự thành phố Cần Thơ nên bà Lâm Thị Thùy Tiên đã nộp đủ tiền án phí.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 36 và 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Cần Thơ; - VKSND Khu vực 9-Cần Thơ; - Phòng THADS Khu vực A-Cần Thơ; - UBND xã L, TPCT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Bảo Quốc |