- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ P, cho bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Sơn C.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 292/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13/8/2024. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh - Cán bộ hưu trí.
Bà Thiều Thị Phi Loan - Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 932/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 206/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 328/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ P, sinh năm 1976.
Địa chỉ: tổ 2, khu phố T, phường H, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên lạc: khu phố 5, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Sơn C, sinh năm 1974.
Địa chỉ: tổ 2, khu phố T, phường H, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
(Bà P có đơn xin vắng mặt, ông C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Sơn C tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 1998 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường xã H (nay là phường H), thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông C không chăm lo cho cuộc sống gia đình, không lo kinh tế, không quan tâm đến con cái, thường xuyên uống rượu, chửi bới vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp. Vì không muốn gia đình đổ vỡ nhiều lần hai vợ chồng đã tìm cách giải quyết nhưng không có kết quả. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Sơn C.
- Về con chung: Bà P xác định có 02 con chung cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 4/7/1999 và cháu Nguyễn T, sinh ngày 06/7/2010. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T. Tạm thời yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi cháu T. Còn cháu O đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà P không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Sơn C được Toà án triệu tập nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó không có ý kiến hay chứng cứ gì giao nộp cho Toà án.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
+ Về việc kiểm sát chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, không có lời khai nên bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết tranh chấp: Từ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ P, cho bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Sơn C; Về con chung: Giao cháu Nguyễn T, sinh ngày 06/7/2010 cho bà P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông C không phải cấp dưỡng nuôi con do bà P không yêu cầu; Cháu O đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết; Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ P phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị Mỹ P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà P được ly hôn với ông Nguyễn Sơn C. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Về tư cách đương sự: Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà Lê Thị Mỹ P là nguyên đơn, ông Nguyễn Sơn C là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo Biên bản xác minh ngày 20/5/2024, Công an phường H, thành phố Biên Hòa cung cấp: Ông Nguyễn Sơn C hiện nay đang cư trú tại địa chỉ tổ 2, khu phố T, phường H, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Toà án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho ông Nguyễn Sơn C nhưng ông C không đến Toà làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử; bà Lê Thị Mỹ P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ và Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt đối với bà P, ông C.
Về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ P, HĐXX xét thấy: Bà Lê Thị Mỹ P và ông Nguyễn Sơn C tự nguyện kết hôn vào năm 1998 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường xã H (nay là phường H), thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Được Ủy ban nhân dân phường xã H (nay là phường H), thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 18/1998 ngày 06/3/1998. Đối chiếu quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống theo bà P trình bày sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc, Sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông C jgoong chăm lo cho cuộc sống gia đình, không lo kinh tế, không quan tâm đến con cái, thường xuyên uống rượu, chửi bới vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nên thường xuyên cãi vã nhau. Vì không muốn gia đình đỗ vỡ đã nhiều lần họ hàng hai bên gia đình cũng như vợ chồng ngồi lại tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông C theo quy định nhưng ông C không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông C đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với bà P. Toà án đã tiến hành hòa giải nhưng bà P vẫn cương quyết ly hôn do không còn tình cảm gì với ông C nữa. Do đó, Tòa án căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Sơn C.
Về con chung: Bà P xác định có 02 con chung, cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 04/7/1999 và cháu Nguyễn T, sinh ngày 06/07/2010. Hiện nay cả hai cháu đang ở với bà P. Ly hôn bà P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu T, tạm thời bà P không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi cháu T. Cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 04/7/1999 hiện nay đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không làm việc được với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T có khuyết tật về nghe nói mực độ khuyết tật đặc biệt nặng và hiện nay cháu T đang ở với bà P. Do đó, cháu T cần sự chăm sóc của mẹ hơn, mặt khác để không làm xáo trộn đời sống tâm sinh lý, việc ăn ở học hành của cháu T. Vì vậy, cần thiết giao cháu T cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Bà P không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi cháu T nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 04/7/1999 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
- Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bà Lê Thị Mỹ P phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Sơn C không phải nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Mỹ P, cho bà Lê Thị Mỹ P được ly hôn với ông Nguyễn Sơn C.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn T, sinh ngày 06/7/2010 cho bà P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời ông C không phải cấp dưỡng nuôi cháu T do bà P không yêu cầu. Cháu Nguyễn Kiều O, sinh ngày 04/7/1999 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết.
Ông C được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí HNGĐ-ST: Bà Lê Thị Mỹ P phải nộp 300.000 đồng án phí, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp tại biên lai số 0003139 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà Lê Thị Mỹ P đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông Nguyễn Sơn C không phải nộp án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Mỹ P, ông Nguyễn Sơn C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKS ND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND TP. Biên Hòa;
- THA dân sự TP. Biên Hòa;
- UBND nơi ĐKKH;
- Đương sự;
- Lưu.
Nguyễn Thị Quỳnh
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - TAND tỉnh; - VKSND TP. Biên Hòa; - THA dân sự ; - Đương sự; - UBND phường An Bình,TP.Biên Hoà; - Lưu. TOØA AÙN NHAÂN DAÂN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA TÆNH ÑOÀNG NAI BIEÂN BAÛN NGHỊ ÁN Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 04/9/2020 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Vôùi hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù: Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh nữ thành phố Biên Hoà. HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 20120 về việc “Tranh chấp ly hôn”, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hằng, sinh năm 1976. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. - Bị đơn: Ông Trần Văn Khoa, sinh năm 1973. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Về tố tụng: ly hôn với ông Trần Văn Khoa, sinh năm 1973; Địa chỉ: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai . Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 31/7/2020 ông Trần Văn Khoa có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chưng cứ và hoà giải và vắng mặt tại các phiên toà khi xét xử nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Khoa. Ngày 13/8/2020, bà Trần Thị Hằng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xét xử vắng mặt bà Hằng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. nhân. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về quan hệ hôn nhân: năm 1995 tại Ủy ban nhân dân Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/02/1995. Do đó, cần áp dụng các quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 8 Luật Hôn nhân gia đình năm 1986, xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do ông Khoa nghiện rượu, cờ bạc, nhiều lần ông Khoa đánh đập bà. Mỗi lần đánh đập bà, bà có báo chính quyền địa phương, có thời gian ông Khoa bị đưa đi cải tạo 02 năm nhưng khi trở về vẫn không thay đổi, tính nào tật đó. Ngày 17/4/2020 Công an phường Long Bình, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Khoa về “hành vi lặng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên trong gia đình”. Tuy bị ông Khoa nhiều lần đánh đập nhưng nghĩ về con cái nên bà đã cố bàu đựng nhưng ông Khoa càng ngày càng bạo lực hơn, đe doạ tính mạng của bà và các con. Từ tháng 3/2020 đến nay bà và ông Khoa sống ly thân với nhau, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Khoa. Xét yêu cầu ly hôn của bà Hằng là có cơ sở chấp nhận. Do vậy, việc bà Hằng xin ly hôn với ông Khoa là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. nhân. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về con chung: Nhung, sinh ngày 19/11/1995, cháu Trần Thế Anh, sinh ngày 07/11/1999 và cháu Trần Mạnh Hùng, sinh ngày 18/01/2007. Ly hôn bà Hằng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hùng, ông Khoa cũng đồng ý giao cháu Hùng cho bà Hằng nuôi. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Hùng đang ở với bà Hằng, do bà Hằng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định về việc học tập và sinh hoạt cho cháu Hùng, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Hằng, giao cháu Hùng cho bà Hằng chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời ông Khoa không phải cấp dưỡng nuôi con cháu Hùng. Riêng cháu Nhung, cháu Anh đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết. quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. nhân. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. sản chung: Bà Hằng và ông Khoa tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết; về nợ chung: Bà Hằng và ông Khoa khai không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. nhân. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về án phí: phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. nhân. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Về quyền kháng cáo: trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án. - Ý kiến của Hội thẩm Kiên: nhất trí ý kiến với Hội thẩm Chánh. nhân. - Keát quaû bieåu quyeát: 3/3 nhaát trí. Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 04 tháng 9 năm 2020. nghe và ký tên dưới đây. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Chánh Huỳnh Thị Kim Kiên HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | Nguyễn Thị Quỳnh Ñoäc Laäp – Töï do – Haïnh Phuùc Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: OÂng Trần Văn Chánh- Cán bộ hưu trí. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên- Hội liên hiệp phụ Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 1710/2020/TLST – Thường trú: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố Thường trú: 26/5/15, tổ 3, khu phố 3, phường Long Bình, thành phố (Bà Hằng và ông Khoa có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: bà Trần Thị Hằng nộp đơn yêu cầu giải quyết - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: Bà Hằng và ông Khoa tự nguyện kết hôn vào - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: có 03 con chung là cháu Trần Thị Hồng Ông Khoa được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm Về tài sản chung và nợ chung: Ý kiến của Hội thẩm nhân dân Chánh:Về tài - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: Bà Trần Thị Hằng phải nộp 300.000đồng án - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm - Ý kiến của Hội thẩm Chánh: Bà Hằng và ông Khoa có quyeàn khaùng caùo - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà thống nhất với ý kiến của hai hội thẩm Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng Nguyễn Thị Quỳnh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |