vanban.org

Bản án 292/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tụng dân sự năm 2015.

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 292/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26-11-2019.
V/v tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thiện lai;

2. Bà Phan Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Bà V Thị Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Không tham gia.

Trong ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 751/2019/TLST-HNGĐ ngày 28

tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử

số 572/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông La Long H, sinh năm 1968 (Có mặt).

Cư trú: ấp HH, xã KA, huyện C M, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1971 (Vắng mặt).

Cư trú: ấp HH, xã KA, huyện C M, tỉnh An Giang; ch ở hiện nay: ấp TL,

xã TM, huyện CM, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà ông La Long H trình bày:

Ông và bà Trương Thị T cưới nhau vào năm 1987 có tổ chức lễ cưới, đến

năm 2003 có đăng ký kết hôn tại y ban nhân dân xã Kiến An, hôn nhân do mai

mối và được cha m quyết định. Vợ chồng sống hạnh phúc được đến năm 2004

thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, hay cự cãi, lối

sống không phù hợp nên vợ cHng ly thân khoảng 15 năm, không tới lui tham nhau. Thấy tình cảm không còn ông yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị T. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên La Thị Huyền T– Sinh năm 1988 và La Hữu L, sinh năm 1990. Hiện nay các con đã thành niên không yêu cầu tòa án giải quyết. Về quan hệ tài sản chung: Tự th a thuận không yêu cầu tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Trương Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để

tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T vắng mặt không r lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của bà T về nội dung đơn khởi kiện của ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Ông La Long H yêu cầu ly hôn với bà Trương Thị T. Bà T có nơi cư

trú tại ấp Tấn Long, xã Tấn M , huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn bà Trương Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia

phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Trương Thị T.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Ông La Long H và bà Trương Thị T xác lập

quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 1987 đến năm 2003 có đăng ký kết hôn kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ông, bà chung sống hạnh phúc đến năm 2004 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo ông H trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, hay cự cãi, lối sống không phù hợp nên vợ cHng ly thân khoảng 15 năm nay, không tới lui tham nhau. Ông H xác định tình cảm quan hệ vợ chồng không còn nên ông yêu cầu ly hôn. Bà T đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc ông H khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T vắng mặt không lý do. Điều này thể hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của ông La Long H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Ông La Long H xác định vợ chồng có 02

con chung tên La Thị Huyền T– Sinh năm 1988 và La Hữu L, sinh năm 1990. Do ông H xác định các con đã thành niên không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận ông La Long H trình bày tài sản

chung để vợ chồng tự th a thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải

quyết.

Về quan hệ nợ chung: ghi nhận ý kiến của ông La Long H trình bày

không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Ông La Long H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 146, 147, 227, 235 và Điều 273 Bộ luật tố

tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 51, 56 và Điều 57, Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông La Long H.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông La Long H được ly hôn với bà Trương Thị

T. Giấy chứng nhận kết hôn số 776, quyền số 04 do y ban nhân dân xã KA,

huyện CM, tỉnh An Giang cấp ngày 24/10/2003 không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Do ông H xác định các con đã thành niên không

yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung: Ghi nhận ông La Long H trình bày tài sản

chung để vợ chồng tự th a thuận. Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải

quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận ông La Long H xác định không có nợ

chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi

kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông, bà trong thời kỳ hôn

nhân thì ông La Long H và Trương Thị T vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với

tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí: Ông La Long H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm

ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số

0013504 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp

ngày 28 tháng 8 năm 2019. Ông H đã nộp xong.

Ông La Long H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án.

Bà Trương Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ

ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ