- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hôn nhân gia đình trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "PHẠM THỊ T - ĐỖ NGỌC ĐÔNG NG"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 292/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10 - 10-2018 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNTHỊ XÃ GÒ CÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:BàLê Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Thành Dương.
2. Ông Trần Công Mẫn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công,tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Chánh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 221/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh ngày 01/4/1988 (Xin vắng mặt);
Địa chỉ: Số 29/4 NHĐ, phường H, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Đỗ Ngọc Đông Ng, sinh năm: 1981 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Số 139 khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn ngày 16/7/2018, Bản tự khai ngày 26/7/2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày: Chị và anh Đỗ Ngọc Đông Ng chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường M, thị xã G cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02/HT ngày 20/01/2009. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp nên vợ chồng thường xuyên cải nhau. Dù chị T đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên từ đó mất dần tình cảm vợ chồng. Chị T với anh Ng đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Về tình cảm: Chị T xin được ly hôn với anh Đỗ Ngọc Đông Ng.
Về con chung: Sau khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Ngọc Kim Ng, sinh ngày 15/4/2011. Không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Đỗ Ngọc Đông Ng mặc dù được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không nộp cho Tòa án Bản tự khai cũng như văn bản ghi ý kiến của mình. Đồng thời Tòa án đã tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Đỗ Ngọc Đông Ng nhưng do anh vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt anh Đỗ Ngọc Đông Ng và không hòa giải vụ án được.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị T là có cơ sở vì mặc dù anh Đỗ Ngọc Đông Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do, cho thấy anh Đỗ Ngọc Đông Ng không có thiện chí gặp chị T để thỏa thuận, trao đổi nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, bỏ mặt cho hậu quả xảy ra, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T. Cho chị T được ly hôn với anh Đỗ Ngọc Đông Ng, giao cháu Ngân cho chị T nuôi dưỡng, anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Ng được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Chị T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe các đương sự trình bày, tranh luận, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn thuộc quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Đối với chị Phạm Thị T có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Đỗ Ngọc Đông Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh Ng.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị Phạm Thị T và anh Đỗ Ngọc Đông Ng chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường M, thị xã GC cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 02/HT ngày 20/01/2009 là phù hợp Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo chị T trình bày vì do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp nên vợ chồng thường xuyên cải nhau. Dù chị T đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả nên từ đó mất dần tình cảm vợ chồng. Chị T với anh Ng đã ly thân từ năm 2012 đến nay.
Phía anh Ng đã được triệu tập hợp lệ để tiến hành hòa giải nhằm hàn gắn mâu thuẫn nhưng anh Ng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh Ng không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Mâu thuẫn giữa chị T và anh Ng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Giữa chị T và anh Ng có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Kim Ng, sinh ngày 15/4/2011, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và không yêu cầu anh Ng cấp dưỡng.
Xét thấy: Về điều kiện nuôi con qua xác minh thì chị T có công việc ổn định, có thu nhập để đảm bảo về điều kiện nuôi con. Anh Ng thường xuyên đi biển vắng nhà nên chị T nuôi con chung sẽ tốt hơn anh Ng.
Xét về điều kiện chăm sóc, cháu Ngân từ nhỏ đã được chị T chăm sóc và từ năm 2012 từ khi chị T và anh Ng sống ly thân cũng do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Để tránh sự xáo trộn trong cuộc sống của cháu Ngân, ổn định trong quá trình sinh hoạt và để đảm bảo cho cháu phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, đạo đức. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngân. Anh Ng không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: do không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4]Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1Điều 28, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Đỗ Ngọc Đông Ng.
- Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị T được trực tiếp nuôi 01 người con chung tên Đỗ Ngọc Kim Ng, sinh ngày 15/4/2011. Anh Đỗ Ngọc Đông Ng không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 42610 ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Gò Công. Khấu trừ xem như đã nộp xong án phí sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Án được tuyên cùng ngày.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND TXGC; - CCTHADS TXGC; - UBND Phường M, TXGC; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Hằng |