vanban.org

Bản án 291/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 24/06/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Huỳnh Đăng T; Bị cáo Huỳnh Đăng N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 291/2021/HSPT
Ngày: 24-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Tuấn

Các thẩm phán:

Ông Vũ Thanh Liêm

Ông Mai Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 330/2021/TLPT-HS ngày 18 tháng 5 năm 2021 đối với ị cáo Huỳnh Đăng T; Bị cáo Huỳnh Đăng N về tội “Giết người”,“Cố ý gây thương tích”. Do kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 06/2021/HSCTN-ST ngày 30-3-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Theo Qết định đưa vụ án ra xét xử số 1366/2021/QĐXXPT-HS ngày 26 tháng 5 năm 2021.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: HUỲNH ĐĂNG T, sinh ngày 22/11/2002, tại tỉnh Bình Định; n i đăng ký HKTT và cư trú: Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; con ông: Huỳnh Đăng T, sinh năm 1979; con à: Huỳnh Thị N, sinh năm: 1982; vợ, con: Chưa có; có 01 người em, sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Chưa có; ị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Họ và tên: HUỲNH ĐĂNG N, sinh ngày: 30/10/1998, tại tỉnh Bình Định; n i đăng ký HKTT và cư trú: Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: V Nam; con ông: Huỳnh Đăng N, sinh năm: 1970; con à: Lê Thị L, sinh năm: 1970; vợ, con: Chưa có; có 02 anh, chị; Nhân thân: Ngày 21/6/2019 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính ằng hình thức phạt tiền về hành vi “Hủy hoại tài sản của người khác”; ị cáo tại ngoại, có mặt. 3. Những người tham gia tố tụng: 3.1. Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Đăng T: Bà Nguyễn Thị Hồng T - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định(có mặt). 3.2. Người đại diện hợp pháp của bị cáo Huỳnh Đăng T: Ông Huỳnh Đăng T, sinh năm 1979 và à Huỳnh Thị N, sinh năm 1982; đồng trú tại: T, Bình Định là cha, mẹ của bị cáo (có mặt). 3.3. Bị hại:

- Anh Nguyễn Hồng T1, sinh năm: 1997; n i cư trú: T, Bình Định(có mặt).

- Anh Trần Minh T3, sinh năm: 1997; n i cư trú: T, Bình Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14h00’ ngày 17/10/2019, nhóm của Huỳnh Đăng T (gọi tắt là nhóm T), gồm: Huỳnh Đăng T, Huỳnh Đăng N, Trư ng Thành D, Nguyễn Phước N, Nguyễn Văn T2, Đỗ Tấn H1, Phạm Gia Chi B, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thanh T4, Huỳnh Tấn N1, Ngô T3 K, Huỳnh Đăng V và Nguyễn Thị Tuyết C đến hát karaoke tại quán X thuộc huyện T, tỉnh Bình Định. Đến khoảng 15h00’ cùng ngày, H1 không hát nữa mà ra lấy xe để chở C đi về thì gặp nhóm của Lê Hồng T1 (gọi tắt là nhóm T1), gồm: Lê Hồng T1, Trần Minh T3, Lê Hoài V và Tăng Văn Q vừa đến quán để thuê phòng hát. Lúc này, H1 điều khiển xe mô tô đứng trước cổng quán rồ ga, nẹt pô xe nhiều lần. Nhóm T1 cho rằng H1 khiêu khích nên T1, V, Q cùng nhau xông đến nói “Thích nẹt pô không?” và dùng tay đánh nhiều cái vào vùng mặt của H1. Ngay lúc đó, K từ trong phòng hát đi ra thấy H1 bị đánh nên chạy vào phòng thông áo cho Huỳnh Đăng N biết H1 bị đánh. Cả nhóm T trong phòng hát nghe được và đều chạy ra khỏi phòng. N chạy ra trước quán nói “Sao lại đánh bạn tao?”, rồi lấy 01 đoạn cây gỗ ở gần đó xông vào định đánh lại, thì ị T1, V và Q chặn lại, giật lấy đoạn cây gỗ và vật ngã xuống đất, rồi dùng tay, chân, cây gỗ đánh N. Do có quen biết và được Phạm Gia Chi B (nhóm T) can ngăn, nên T1, V và Q không đánh N nữa mà đi vào trước quán. N được Nguyễn Văn H2 dìu vào cổng quán X. Huỳnh Đăng T ra trước quán thấy N bị đánh nên tức giận, lấy 01 cây xẻng dựng sẵn trước quán cầm trên tay làm hung khí định đánh nhóm T1 thì ị Trần Minh T3, Phạm Gia Chi B, Nguyễn Thanh T4 can ngăn, cùng giật làm phần cán và phần lưỡi xẻng rời ra (T3 cầm lưỡi xẻng, B cầm cán xẻng). Sau khi bị giật mất cây xẻng, T bị ngã ngồi xuống rồi lập tức đứng dậy. T tiếp tục lấy 01 cây cuốc ở gần đó đến chỗ của T1; khi cách T1 khoảng 1,3m, T cầm cán cuốc bằng hai tay đưa lên cao, lưỡi cuốc hướng từ trên xuống dưới, đánh ổ mạnh xuống 01 cái trúng phần lưỡi cuốc vào vùng đỉnh đầu ên trái của T1 làm T1 gục ngã tại chỗ; T ném cây cuốc tại chỗ đánh T1 và ỏ chạy vào trong quán X.

Cùng thời điểm này, Trư ng Thành D (nhóm T) chạy vào trong bếp của quán lấy 01 con dao; Huỳnh Đăng N (nhóm T) lấy 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật rỗng có sẵn trước quán làm hung khí; rồi D và N cùng nhau xông vào để đánh nhóm T1. Khi thấy T3 bỏ chạy, D và N cầm hung khí đuổi theo T3. T3 ném lưỡi xẻng ngược lại, nhưng D đỡ được nên không ị thư ng tích gì. T3 chạy về hướng Bắc (so với quán) khoảng 7,5m thì ị vấp ngã nằm nghiêng ên phải. Ngay lúc này, D xông đến cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống trúng vào vùng ngực trái của T3; N cầm thanh kim loại đánh nhiều cái vào người T3. T3 đưa tay trái lên đỡ đòn và đứng dậy được, rồi bỏ chạy thoát về hướng Bắc nên D và N không đuổi theo nữa.

Nguyễn Văn T2 (nhóm T) chạy ra trước quán thấy N bị đánh nên lấy 01 cây chổi lau nhà treo ở hàng rào ên trái trong sân quán chạy ra chỗ N để đánh nhau, thì thấy những người đánh N đã ỏ chạy. T2 cầm cây chổi lau nhà chạy theo khoảng 10m đến 15m thì gặp D, N và không thấy đối phư ng, nên T2 cầm cây chổi lau nhà quay lại cổng quán X. Lúc này, T2 thấy T1 đang được đưa đi cấp cứu.

Những người còn lại thuộc nhóm T, gồm: Huỳnh Tấn N1, Ngô T3 K, Huỳnh Đăng V chỉ đứng nhìn sự việc xảy ra.

Hậu quả: Lê Hồng T1, Trần Minh T3 được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định; Nguyễn Phước N được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T rồi chuyển đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định. Lần lượt vào các ngày 22, 24 và 26/10/2019, Trần Minh T3, Nguyễn Phước N và Lê Hồng T1 xuất viện.

* Bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số 254/2019/PY-TgT ngày 09/12/2019 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Bình Định kết luận đối với Lê Hồng T1 như sau: Vết thương vùng thái dương-đỉnh trái gây đau đầu, chóng mặt, yếu ½ người phải, lên cơn co giật toàn thân, nứt lún xương sọ, rách màng cứng, dập mô não, chảy máu xoang tĩnh mạch đã phẫu thuật gặm bỏ các mảnh xương vỡ, lấy bỏ não dập cầm máu xoang tĩnh mạch, đặt dẫn lưu. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 40%.

* Bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số 253/2019/PY-TgT ngày 09/12/2019 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Bình Định kết luận đối với Trần Minh T3 như sau: Vết thương thấu ngực trái gây: Đứt cân cơ, chảy máu cân cơ; chảy máu màng phổi, phì phò khí đã phẫu thuật: cầm máu cân cơ; đuổi khí màng phổi, cầm máu màng phổi. Hiện vùng ngực trái tương ứng vùng xương sườn VII, VIII đường nách bên vết thương để sẹo kích thước (5x0,3)cm; hai phổi thông khí trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 18% (Mười tám phần trăm). * Bản kết luận giám định pháp y về thư ng tích số 271/2019/PY-TgT ngày 30/12/2019 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế tỉnh Bình Định kết luận đối với Nguyễn Phước N như sau: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05% (Năm phần trăm). Tại Bản n h nh ự ơ h m 06/2021/HSCTN-ST ngày 30/3/2021, Tòa n nhân dân tỉnh B nh Định

uy ịnh: 1. Tuyên ố: Bị cáo Huỳnh Đăng T phạm tội “Giết người”. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Đăng T 05 ( năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt đi thi hành án. 2. Tuyên ố: bị cáo Huỳnh Đăng N phạm tội “Cố ý gây thư ng tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Đăng N 12 ( mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ắt đi thi hành án. Ngoài ra, ản án s thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử s thẩm: Bị cáo Huỳnh Đăng T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt Bị cáo Huỳnh Đăng N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Người bị hại anh Trần Minh T3 có hai đ n ãi nại ghi ngày 7/4/2021 và 12/4/2021 gởi Tòa án có nội dung: Án s thẩm xử bị cáo N 12 tháng tù là quá nặng, đề nghị xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo N. Tại phiên tòa phúc thẩm: Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tòa án s thẩm xét xử là đúng pháp luật, các ị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị giữ nguyên bản án s thẩm. Người ào chữa cho bị cáo Huỳnh Đăng T trình ày: Bị cáo phạm tội còn tuổi chưa thành niên và do ột phát, có nhân thân tốt, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện hợp pháp cho ị cáo T thống nhất lời ào chữa của luật sư, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Huỳnh Đăng T thống nhất lời ào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Huỳnh Đăng N: Thư ng tích của bị hại là do ị cáo D dùng dao đâm anh T3, thấy bạn bị đánh nên vì muốn ênh vực bạn nên tôi phạm tội, quá trình giải quyết vụ án tôi đã nhận sai và thành thật ăn năn hối cải, đã khai áo và giúp c quan tố tụng tiến hành nhanh chóng làm rõ nội dung vụ việc, Tòa án s thẩm xử tôi 12 tháng tù là quá nặng, tôi đề nghị giảm án và xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xuất phát từ mâu thuẫn bộc phát giữa Đỗ Tấn H1 (nhóm Huỳnh ĐăngTiến) với nhóm Lê Hồng T1 tại quán X thuộc thôn Mỹ An, xã Tây Bình, huyện T, tỉnh Bình Định.Vào khoảng 15h00’ ngày 17/10/2019, dù đã được những người có mặt tại hiện trường can ngăn nhưng Huỳnh Đăng T đã sử dụng cây cuốc có lưỡi bằng sắt đánh ổ mạnh một phát vào đỉnh đầu của Lê Hồng T1. Hậu quả: Lê Hồng T1 bị nứt lún xư ng sọ, rách màng cứng, dập mô não, chảy máu xoang tĩnh mạch, tỷ lệ tổn thư ng c thể 40%. Tòa án s thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Đăng T về tội “Giết người” với tình tiết “Có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với Huỳnh Đăng N dù không có mâu thuẫn với nhóm T1 nhưng khi thấy N bị đánh, D và N đã cầmhung khí rượt đuổi đánh Trần Minh T3. Khi T3 bị ngã, D đã cầm dao chém 01 nhát trúng vào vùng ngực trái của T3. N cầm thanh kim loại đánh nhiều cái vào người T3. T3 đứng dậy, bỏ chạy cả hai mới dừng lại. Hậu quả: Trần Minh T3 tỷ lệ tổn thư ng c thể là 18%. Tòa án s thẩm đã xét xử bị cáo Huỳnh Đăng N về tội “Cố ý gây thương tích” Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các ị cáo:

Xét kháng cáo của ị cáo Huỳnh Đăng T, thấy: Hành vi phạm tội của ị cáo thể hiện tính côn đồ, xem thường tính mạng, sức khỏe người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phư ng, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, ảnh hưởng xấu an ninh xã hội. Tòa án cấp s thẩm đã căn cứ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của ị cáo, hậu quả ị cáo gây ra, nhân thân của ị cáo, áp dụng đúng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt ị cáo T 5 năm tù về tội “giết người” là không nặng, có căn cứ và đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm ị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ mới nào khác; do vậy, không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo, giữ nguyên quyết định của ản án s thẩm. [2.2] Xét kháng cáo của ị cáo Huỳnh Đăng N, thấy: Thư ng tích(18%) của người ị hại do ị cáo D gây nên; ị cáo có hành vi dùng thanh sắt đánh người ị hại nhưng chưa gây thư ng tích, Tòa án s thẩm đã áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 xử phạt ị cáo N 12 tháng tù là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên xét thấy, ị cáo N có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, có n i cư trú rõ ràng, đã ồi thường toàn ộ thiệt hại cho người ị hại, sau khi xét xử s thẩm người ị hại (anh Trần Minh T3) có đ n ãi nại và cho rằng mức án s thẩm quá nặng, đề nghị xem xét cho ị cáo N mức án nhẹ nhất (BL627, 631), do đó chấp nhận một phần kháng cáo của ị cáo N, đề nghị của người ị hại sửa ản án s thẩm cho ị cáo được hưởng án treo, giao ị cáo cho chính quyền địa phư ng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung. [3] Các quyết định khác của ản án s thẩm về trách nhiệm hình sự, ồi thường thiệt hại, về xử lý vật chứng, về án phí dân sự và hình sự s thẩm, về thi hành ản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [4] Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án, các ị cáo T phải chịu 200.000, đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm, ị cáo N không phải chịu. Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH: 1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Không chấp nhận kháng cáo của các ị cáo Huỳnh Đăng T, giữ nguyên Bản án s thẩm. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 91, Điều 101, Điều 102 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017). Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Đăng T 05 ( năm) tù về tôi “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày ắt đi thi hành án. 2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huỳnh Đăng N, sửa Bản án s thẩm. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Đăng N 12 ( mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thư ng tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mư i ốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 24/6/2021).

Giao bị cáo Huỳnh Đăng N cho Ủy an nhân dân xã Bình Hòa, huyện T, Bình Định để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp bị cáo N thay đổi n i cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Các quyết định khác của ản án s thẩm số 06/2021/HSCTN-ST ngày 30/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định về trách nhiệm hình sự, ồi thường thiệt hại, về xử lý vật chứng, về án phí dân sự và hình sự s thẩm, về thi hành ản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các ị cáo Huỳnh Đăng T phải chịu 200.000, đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Huỳnh Đăng N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ