- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Hằng và anh Lộp"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị NTKH được ly hôn với anh AVL.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 291/2020/HNGĐ-ST Ngày : 23 – 6 – 2020 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chào
2. Bà Lê Trần Minh Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Ninh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 647/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số: 92/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: NTKH, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số 16, tổ 01, ấp Bình An, xã VTT, huyện CP, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay; Ấp Thạnh Nhơn, xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. (có mặt)
2. Bị đơn: AVL, sinh năm 1994. Địa chỉ cư trú: Số 16, tổ 01, ấp Bình An, xã VTT, huyện CP, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 6 năm 2019, nguyên đơn chị KH trình bày như sau:
Tôi và anh VL quen biết nhau, tiến đến hôn nhân năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã VTT. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh VL không quan tâm đến vợ con, vợ chồng đã ly thân khoảng 03 đến 04 năm. Mỗi người đã có cuộc sống riêng, nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh VL. Thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung ATMD, sinh ngày 30/8/2012, khi ly hôn tôi yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh VL cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có; nợ chung: Không có.
- Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn anh VL nhưng không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án trình bày ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị KH.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị KH: Vẫn giữ yêu cầu ly hôn, yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh VL cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không có.
- Bị đơn anh VL: Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Thẩm phán được được công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70; Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặ; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong thời hạn chuẩn bị xét xử và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai là tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Chị KH và anh VL chung sống, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh VL được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến về hôn nhân. Từ khi chị KH nộp đơn ly hôn đến nay, anh chị không tạo điều kiện cho nhau để đoàn tụ, anh VL không quan tâm cuộc sống vợ chồng, thời gian ly thân đã lâu, không thể đoàn tụ nên dẫn đến tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị KH.
+ Về con chung: Thời gian chung sống có 01 con chung tên ATMD, sinh ngày 30/8/2012, chị KH yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, anh VL không có ý kiến và không tranh chấp về việc nuôi con. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho KH trực tiếp nuôi, chị KH không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
+ Về tài sản chung: Không có; về nợ chung: Không có. Đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Anh VL vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã VTT, huyện CP, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Bị đơn anh VL đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
+ Chị KH và anh VL chung sống, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, chị KH trình bày vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do anh VL không chăm lo cho gia đình, bất đồng quan điểm, đã ly thân khoảng 03 năm nay. Hội đồng xét xử nhận định, trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, anh VL không đến Tòa án trình bày ý kiến về hôn nhân, không quan tâm đến cuộc sống vợ chồng, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Thời hạn chuẩn bị xét xử, chị KH xác định đã ly thân đã lâu nên không thể đoàn tụ, tình cảm không còn. Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn được cung cấp thông tin là giữa anh VL và chị KH có xảy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không biết. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh VL được tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án hợp lệ nhưng không tham gia trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, cho thấy không quan tâm cuộc sống vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, thời gian ly thân đã lâu, anh VL hoàn toàn không đến thăm con, cả hai không liên lạc với nhau. Từ đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị KH và anh VL mâu thuẫn kéo dài, không thể tiếp tục chung sống, ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị KH.
+ Về con chung: Thời gian chung sống, chị KH và anh VL có 01 con chung tên ATMD, sinh ngày 30/8/2012 do chị KH trực tiếp nuôi. Quá trình chuẩn bị xét xử, chị KH yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, anh VL không có ý kiến và không tranh chấp về việc nuôi con. Để đảm bảo ổn định cho con chung, Hội đồng xét xử giao con chung cho chị KH trực tiếp nuôi. Về cấp dưỡng nuôi con, do chị KH không yêu cầu anh VL cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Nếu chị KH có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị KH phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2017/0005962 ngày 03 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị NTKH được ly hôn với anh AVL.
- Về con chung: Giao con chung tên ATMD, sinh ngày 30/8/2012 cho KH trực tiếp nuôi.
+ Về cấp dưỡng cho con: Chị KH không yêu cầu anh VL cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Chị KH cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh VL thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị KH phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2017/0005962 ngày 03 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện CP.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kề từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND.AG; - VKSND.HCP; - THA HCP; - UBND xã VTT; - Đương sự (Để thi hành); - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Anh |