- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Phước H cùng đồng phạm phạm tội "Cố ý gây thương tích" theo điều 134 - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức kh…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo hạm hước H. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 58 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 291/2019/HS-PT Ngày: 06 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị V Trinh.
ng Lê Thành Tôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thúy i - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 207/2019/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo hạm hước H, do có kháng cáo c a bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2019/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 c a Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị cáo c háng cáo:
hạm hước H (thư ng g i là C), sinh ngày 29/12/1999 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Số x, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ h c vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông hạm Văn T và bà hạm Thị N; vợ và con chưa c ; tiền án, tiền sự: Không; bị b t, tạm giam: Không; c m t.
Ngoài ra còn c 04 bị cáo không c kháng cáo, 03 bị cáo c kháng cáo nhưng rút kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m t t như sau:
Trần Huy K và Huỳnh Hiếu N là bạn bè quen biết với nhau.
Khoảng 14 gi ngày 29/7/2018, K c đăng hình ảnh trên mạng Facebook thì N vào tham gia bình luận và c những l i lẽ khiếm nhã nên cả hai xảy ra cãi vã. Lúc này, K hẹn g p N tại quán nước giải khát gần cổng B công viên thành phố S, t a lạc kh m T, phư ng A, thành phố S để giải quyết mâu thuẫn thì được N đồng ý. Khoảng 18 gi cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số xxxxx đến điểm hẹn g p K thì cả hai tiếp tục cãi vã, K c dùng tay đánh một cái trúng vào vùng m t c a N và làm cho xe c a N bị hư hỏng nhẹ. N điện thoại g p Lê Cao Kim N1 (chị em bạn dì với N) nh N1 điện thoại yêu cầu K phải sửa chữa xe cho N nhưng K không đồng ý. Sau đ N1, N và Nguyễn Hoàng T cùng nhau đến nhà c a K tại ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp g p chị Trang Thị Cẩm L (mẹ K) yêu cầu phải sửa chữa xe cho N nhưng chị L không đồng ý nên cả nh m đi về thành phố S.
Đến khoảng 18 gi 45 phút ngày 29/7/2018, K đang ngồi uống nước cùng với hạm Thanh H tại quán giải khát H thuộc xã T, thành phố S thì N1 tiếp tục điện thoại kêu K đến cầu T t a lạc kh m T, phư ng A, thành phố S để giải quyết việc bồi thư ng tiền sửa xe cho N thì K đồng ý. Trong lúc N1, N và T đang đứng đợi K thì Đỗ Thành N2 điều khiển xe mô tô chở Cao Kim N3 phía sau, trên đư ng đi chơi về đến cầu T g p nh m c a N nên dừng xe lại n i chuyện.
Đối với K sau khi nghe điện thoại c a N1 liền kể lại toàn bộ sự việc cho Thanh H nghe và n i nh m c a N c ý thách thức đánh nhau và nh Thanh H r thêm một số ngư i khác đến cầu T để đánh nh m c a N thì được Thanh H đồng ý. Thanh H điện thoại g p Trần Thanh P, Lê Văn L1, hạm hước H n i dối là Thanh H đang bị ngư i khác ch n đư ng đánh nên kêu P, L1, hước H đem theo hung khí và hẹn g p nhau tại cầu S 2 để đi đến cầu N đánh nh m c a N thì được P, L1, hước H đồng ý. Vào th i điểm Thanh H điện thoại r P, L1, hước H thì Huỳnh Nhật T1, hạm Trư ng T2, V Văn H1 cũng ở gần bên P, L1, hước H nên biết được sự việc và tự nguyện đi cùng với P, L1, hước H đến cầu S 2 để đánh nhau với nh m c a N.
Trước khi đi đánh nhau đồng b n c a K chuẩn bị hung khí và mang theo gồm: T1 đem theo 01 con dao cán bằng nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, chiều dài khoảng 20cm; P đem theo 01 con dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu tr ng, chiều dài khoảng 68cm, cả hai con dao nêu trên được lấy tại vư n xoài c a P; L1 đem theo 01 con dao tự chế cán và lưỡi bằng kim loại màu tr ng, chiều dài khoảng 50cm, 01 cây gậy s t chiều dài 63cm lấy tại phòng tr c a L1; hước H đem theo 01 đoạn gỗ (cây cơ), chiều dài khoảng 1,2 mét tại bàn bi da (không r bảng hiệu) thuộc xã T, thành phố S.
Sau đ T1 điều khiển xe mô tô biển số xxxxx chở P; T2 điều khiển xe mô tô chở L1; hước H và H1 mỗi ngư i điều khiển 01 xe mô tô đến cầu S 2. Khi đến cầu S 2 thì T1, P, T2, L1, hước H, H1 g p Thanh H, K, Lê Quốc N4, Nguyễn Huỳnh K1, Nguyễn Lưu Loan N3, Huỳnh Thị Nga A, Nguyễn Thanh T3 và B (không r h tên, địa chỉ). Lúc này K điều khiển xe mô tô chở Nga A, Thanh H điều khiển xe mô tô biển số xxxxx chở Loan Ng c chạy trước dẫn đư ng, những ngư i còn lại điều khiển xe chạy theo sau đến cầu N. Riêng H1 nh t lấy một đoạn tre chiều dài khoảng 70cm, đư ng kính khoảng 05cm gần khu vực cầu S 2 đem theo để làm hung khí.
Khi đến cầu N, Thanh H hỏi K “ hải nh m này không” thì K trả l i “phải” nên cả nh m vòng xe mô tô lại đậu sát vị trí c a N1, N, T, Thành N2 và K1 N3 đang đứng ch K trên cầu và nh m c a K đánh nhau với nh m c a N (T, Thành N2, K1 N3) cụ thể: T1 nhảy xuống xe cầm con dao bằng kim loại rượt đuổi T nên T leo lên lan can cầu nhưng chưa kịp nhảy xuống cầu thì bị T1 đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng T và rơi xuống sông; H1 cầm 01 đoạn tre cùng với K rượt đuổi N thì N leo lên lan can cầu rồi nhảy xuống sông, H1 ném đoạn tre theo nhưng không trúng N (không thu hồi được); Phước H cầm đoạn gỗ chạy xuống dốc cầu N rượt đuổi một nh m ngư i vì cho rằng những ngư i này là đồng b n c a nh m N.
Cùng lúc này ở trên cầu N, nh m c a K xảy ra cãi vã với Thành N2, Kim N3 và đánh nhau: T2 dùng tay đánh 03 cái trúng vào vùng m t c a Thành N2 làm cho Thành N2, Kim N3 cùng xe mô tô ngã xuống m t đư ng; T2 cầm mũ bảo hiểm màu đen đánh 01 cái trúng trực diện vào vùng m t c a Kim N3; Quốc N4, K1 xông vào dùng mũ bảo hiểm các loại đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu c a Thành N2; T1 dùng tay đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu c a Thành N2 và đạp 01 cái trúng vào ngư i Kim N3; P cầm dao tự chế chém 03 nhát trúng vào vùng bụng, cánh tay trái c a Thành N2; L1 dùng cây gậy s t đánh nhiều cái trúng vào vùng đầu, hông bên phải c a Thành N2 và Kim N3; K thì dùng tay kéo ngã xe mô tô biển số xxxxx c a N xuống m t đư ng rồi dùng tay, chân đấm, đạp vào xe c a N.
Sau khi rượt đuổi, đánh, đâm, chém T, Thành N2 và Kim N3 xong thì nhóm c a K lên xe chạy về xã T, thành phố S ném bỏ hung khí cụ thể: T2 bỏ lại mũ bảo hiểm màu đen tại hiện trư ng nhưng bị thất lạc không thu hồi được; H1 ném bỏ mũ bảo hiểm màu đen xuống con rạch cầu T thuộc kh m T, phư ng A, thành phố S không thu hồi được; T1 và hước H thì lần lượt ném bỏ con dao bằng kim loại và 01 đoạn gỗ (cây cơ) xuống sông S không thu hồi được.
Đối với Kim N3, sau khi bị gây thương tích đã đến Công an phư ng A, thành phố S trình báo sự việc. T, Thành N2 và Kim N3 được ngư i thân đưa đến Bệnh viện đa khoa S cấp cứu, do thương tích n ng nên T, Kim N3 được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy, Tai mũi h ng; Răng hàm m t Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị. Đến ngày 02/8/2018 thì T ra viện và ngày 10/8/2018 thì Kim N3 ra viện. Riêng Thành N2 không c nhập viện điều trị mà được Bác sỹ khâu lại các vết thương và mua thuốc về nhà điều trị. T, Kim N3 và Thành N2 c đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với nh m c a K.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số x/TgT ngày 27/9/2018 c a Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Tháp kết luận đối với Đỗ Thành N2:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương phần mềm số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ.
2. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014, tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Đỗ Thành N2 do thương tích gây nên tại th i điểm giám định là 02%.
3. Kết luận khác: Tổn thương trên do vật tày gây ra.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số x/TgT ngày 27/9/2018 c a Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Tháp kết luận đối với Cao Kim N3:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Gãy răng 3.1; 4.1; 4.2 đã được l p răng giả; Gãy xương chính mũi; Gãy xương hàm trên bên phải đã phẫu thuật kết hợp xương.
2. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014, tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Cao Kim N3 do thương tích gây nên tại th i điểm giám định là 19%.
3. Kết luận khác: Tổn thương trên do vật tày tác động gây nên thương tích.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số x/TgT ngày 27/9/2018 c a Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế Đồng Tháp kết luận đối với Nguyễn Hoàng T:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương phần mềm lưng phải gây tràn dịch màng phổi lượng nhiều đã được dẫn lưu màng phổi ổn định.
2. Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014, tỷ lệ tổn thương cơ thể c a Nguyễn Hoàng T do thương tích gây nên tại th i điểm giám định là 04%.
3. Kết luận khác: Tổn thương trên do vật c cạnh s c nh n gây ra.
Quá trình điều tra các bị hại và ngư i đại diện hợp pháp c a bị hại yêu cầu các bị cáo Trần Huy K, hạm Thanh H, hạm Trư ng T2, Huỳnh Nhật T1, Trần Thanh P, Lê Văn L1, V Văn H1, hạm hước H và những ngư i c quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án là Lê Quốc N2, Nguyễn Huỳnh K1 bồi thư ng thiệt hại, cụ thể:
Cháu Cao Kim N3 và chị Trần Thị Thu H2 (mẹ ruột c a cháu N3) yêu cầu bồi thư ng tiền viện phí là 14.959.000 đồng; Chi phí kh c phục thẩm mỹ (trồng răng giả) là 103.000.000 đồng; Chi phí đi lại trong th i gian điều trị thương tích, tái khám là 7.500.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất do sức khỏe bị xâm phạm 6.200.000 đồng; Bù đ p tổn thất về tinh thần là 50 tháng lương cơ sở với số tiền 69.500.000 đồng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, cháu N3 và chị H2 yêu cầu bồi thư ng bổ sung chi phí điều trị thẩm mỹ phần mũi cho cháu N3 số tiền 100.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm cháu N3, chị H2 không yêu cầu Tòa án xem xét về chi phí điều trị thẩm mỹ phần mũi cho cháu N3 số tiền 100.000.000 đồng, cháu N3 và chị H2 sẽ khởi kiện vụ án dân sự khác.
Nguyễn Hoàng T yêu cầu bồi thư ng tiền viện phí 2.729.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 2.500.000 đồng; Chi phí đi lại trong th i gian điều trị thương tích 2.500.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất do sức khỏe bị xâm phạm là 9.000.000 đồng; Bù đ p tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Thúy O (mẹ bị cáo T1) đã tự nguyện bồi thư ng cho T số tiền 15.000.000 đồng gồm tiền viện phí 2.729.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 2.500.000 đồng; Chi phí đi lại trong th i gian điều trị thương tích 2.500.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất 2.700.000 đồng; Tiền bù đ p tổn thất về tinh thần 4.571.000 đồng. Anh T yêu cầu bồi thư ng tiếp tục số tiền còn lại là 11.729.000 đồng gồm thu nhập thực tế bị mất 6.300.000 đồng; Tiền bù đ p tổn thất tinh thần 5.429.000 đồng.
Đỗ Thành N2 yêu cầu bồi thư ng tiền viện phí 207.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất do sức khoẻ bị xâm phạm 200.000 đồng.
Chị Trần Thị Thu H2 (mẹ ruột c a Kim N3) yêu cầu bồi thư ng thu nhập thực tế bị mất do phải chăm s c, nuôi dưỡng Kim N3 trong th i gian điều trị thương tích, tái khám 15 ngày, mỗi ngày 1.000.000 đồng, thành tiền 15.000.000 đồng.
Anh Nguyễn Hoàng T4 (cha ruột c a T) yêu cầu bồi thư ng phần thu nhập thực tế bị mất do phải chăm s c anh T trong th i gian điều trị thương tích 15 ngày, mỗi ngày 300.000 đồng, thành tiền là 4.500.000 đồng.
Các bị cáo K, Thanh H, T2, T1, P, L1, H1, hước H và những ngư i c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cháu Quốc N4, cháu K1 không đồng ý bồi thư ng thiệt hại theo yêu cầu c a cháu Kim N3, anh T, anh Thành N2, chị H2 và anh T2 mà yêu cầu giải quyết theo quy định c a pháp luật.
Quá trình điều điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã tạm giữ và trao trả tài sản, đồ vật không liên quan đến vụ án gồm: 01 áo thun ng n tay màu cam, 01 quần Jean dài màu đen cho bị cáo T1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Airblade màu đen, biển số xxxxx cho chị Nguyễn Thị Thuý O; 01 cái áo sơ mi dài tay màu đen, 01 quần Jean màu đen cho bị cáo H1; 01 mũ bảo hiểm màu đen, dây quay màu đen phía sau c chữ “N n Sơn”, 01 n n kết màu đen hiệu H&M màu đỏ, 01 áo sơ mi ng n tay màu xanh lam sẫm, s c kẻ ngang c chữ Heng Dajef và s c áo màu tr ng, 01 quần Jean kiểu nam màu xanh da tr i, túi trước bên phải c dòng chữ New Jeans cho Nguyễn Huỳnh K1.
Cơ quan điều tra Công an thành phố S còn thu giữ c a bị cáo P gồm 01 con dao tự chế cán bằng cây được quấn băng keo màu tr ng và dây vải màu nâu phía bên ngoài, chiều dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại màu tr ng 48cm, vỏ bằng giấy carton được quấn băng keo màu đen phía bên ngoài, chiều dài 48cm; 01 cái áo khoác dài tay màu đỏ tr ng, bên ngực trái và lưng c chữ “A87 – Aeropostale”; 01 cái quần s t Jean màu xanh đã qua sử dụng và thu giữ c a bị cáo L1 gồm 01 cây gậy s t chiều dài 63cm c a bị cáo L1; 01 USB, bên trong c đoạn video ghi lại hình ảnh bị cáo Trần Huy K cùng đồng phạm thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích” trên cầu N vào ngày 29/7/2018.
Tại bản án sơ thẩm số 34/2019/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 c a Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 c a Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo hạm hước H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo hạm hước H mức án 02 năm 03 tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên bố các bị cáo Trần Huy K, hạm Thanh H, V Văn H1, hạm Trư ng T2, Huỳnh Nhật T1, Trần Thanh P, Lê Văn L1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt các bị cáo Trần Huy K 03 năm tù, hạm Thanh H 03 năm tù, V Văn H1 02 năm 06 tháng tù, hạm Trư ng T2 03 năm 06 tháng tù, Huỳnh Nhật T1 02 năm tù, Trần Thanh P 03 năm tù, Lê Văn L1 03 năm tù; bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự; trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền; về xử lý vật chứng; về án phí; quyền và th i hạn kháng cáo; quyền và nghĩa vụ c a ngư i được thi hành án, ngư i phải thi hành án, th i hiệu thi hành án theo quy định c a pháp luật.
Ngày 31/7/2019 các bị cáo hạm Trư ng T2, Trần Thanh P và V Văn H1 c đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 30/7/2019 bị cáo hạm hước H kháng cáo xin giảm hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo. Ngày 02/10/2019 bị cáo H c nộp số tiền 9.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 06015 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S để bảo đảm thi hành án.
Ngày 09/8/2019 bị cáo hạm Trư ng T2 c văn bản về việc rút kháng cáo, ngày 14/8/2019 bị cáo V Văn H1 c văn bản về việc rút kháng cáo và ngày 22/8/2019 bị cáo Thanh P P c văn bản về việc rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo hạm hước H thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm số 34/2019/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 c a Tòa án nhân dân thành phố S đã xét xử. Bị cáo H nhận tội, đồng ý với tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố đối với bị cáo, về hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm 03 tháng tù là quá n ng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo H c nộp số tiền 9.000.000 đồng để bồi thư ng thiệt hại cho bị hại, vợ bị cáo là Nguyễn Thị Trúc L2 đang mang thai, nhưng vợ chồng bị cáo chưa đăng ký kết hôn do bị cáo chưa đ tuổi kết hôn, nên bị cáo H xin Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngư i bào chữa cho bị cáo hạm hước H trình bày l i bào chữa: Bị cáo hước H chỉ muốn giúp bạn mình là Thanh H vì nghe tin Thanh H bị ngư i khác đánh. Bị cáo hước H không biết bị Thanh H lừa vì Thanh H không bị ai ch n đánh, nếu biết thì bị cáo hước H không đi giúp Thanh H. Bị cáo H là đồng phạm trong vụ án hình sự trên, chứ không đánh và gây thương tích cho ai. Bị cáo H và các bị cáo khác trong vụ án không c thỏa thuận đi đánh nhau, nên Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo H c tính côn đồ là không đúng vì bị cáo H và bị hại không c mâu thuẫn, bị cáo không đánh bị hại. Bị cáo H c hành vi vi phạm pháp luật là do tin tưởng bạn bè, thiếu hiểu biết pháp luật, không gây thương tích cho ai trong vụ án, bị cáo chưa c tiền án, tiền sự, vợ bị cáo đang mang thai, gia đình đang kh khăn nhưng bị cáo vẫn cố g ng làm việc để c tiền kh c phục một phần hậu quả và bị cáo chỉ là ngư i giúp sức. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54, xử phạt bị cáo hạm hước H 12 tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm c a Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo hạm hước H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là c căn cứ. Xét mức án 02 năm 03 tháng tù đối với bị cáo hạm hước H là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả c a hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H kháng cáo xin giảm hình phạt và c nộp số tiền 9.000.000 đồng để bồi thư ng thiệt hại một phần cho các bị hại. Đây là tình tiết mới ở Tòa án cấp phúc thẩm nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp. Bị cáo H không đ điều kiện hưởng án treo theo quy định c a Bộ luật hình sự. Do đ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo hạm hước H, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt, giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng và không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo hạm hước H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo hạm hước H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a bị cáo. L i khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với l i khai c a bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án, đ sơ sở khẳng định Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2019/HS-ST ngày 19/7/2019 c a Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo hạm hước H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là c căn cứ, đúng ngư i, đúng tội và đúng quy định c a pháp luật.
Hành vi phạm tội c a bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm sức khỏe c a ngư i khác một cách trái pháp luật. Bị cáo H là ngư i thành niên, đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho ngư i khác là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện việc bị cáo H xem thư ng pháp luật. Do đ phải c mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và c tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo H là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H c kháng cáo và nộp số tiền 9.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 06015 ngày 02/10/2019 c a Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S, tỉnh Đồng Tháp để bồi thư ng thiệt hại cho bị hại. Đây là tình tiết mới ở cấp phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm hình phạt cho bị cáo H là c căn cứ.
Do mối quan hệ hôn nhân giữa bị cáo H và chị Nguyễn Thị Trúc L2 chưa tuân th quy định c a pháp luật Hôn nhân và gia đình, mà cụ thể là chưa đăng ký kết hôn theo quy định nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Vì vậy tình tiết bị cáo H c vợ đang mang thai không được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ, H quả c a hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo hạm hước H.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo hạm hước H, sửa bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo hạm hước H.
Xét đề nghị c a ngư i bào chữa cho bị cáo hạm hước H phù hợp một phần như đã nhận định trên, nên chấp nhận một phần đề nghị c a ngư i bào chữa cho bị cáo H.
Các phần khác c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo c a bị cáo H được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt c a bị cáo hạm hước H. Sửa bản án sơ thẩm.
Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo c a bị cáo hạm hước H.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 c a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo hạm hước H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo hạm hước H 02 (hai) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
Về án phí: Bị cáo hạm hước H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác c a bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị c hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ GĐ-KT 1); - Ban Nội chính Tỉnh y; - Sở Tư pháp Tỉnh; - VKSND Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - TAND - VKSND thành phố S; - CCTHADS thành phố S; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố S; - hòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - hòng GĐKTNV-THA; - Bị cáo; - Lưu: VT, HS (Linh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng |