vanban.org

Bản án 291/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/04/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:

Buộc Bị đơn ông Trương Chí T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tính đến ngày 23/4/2018 là 199.182.379 (Một trăm chín mươi chín triệu một trăm tám mươi hai ngàn ba trăm bảy mươi chín) đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài số tiền trên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 291/2018/DS-ST
Ngày 23-4-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Ngọc Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Trung Kiên

2. Bà Lê Thị Minh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2018 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 287/2017/DSST ngày 25 tháng 7 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2018/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2018/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2018.

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ

Địa chỉ trụ sở chính: đường P, Phường Q, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T– Chủ tịch Hội đồng quản trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Minh K – sinh năm 1993

(Giấy ủy quyền số 37/QĐ-DAB-Q5 ngày 21/06/2017)

Địa chỉ chi nhánh: đường T, Phường H, Quận L, Tp. HCM

(Có mặt)

Bị đơn: Ông Trương Chí T - sinh năm 1961

Địa chỉ: đường D, Phường S, quận B, Tp. Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 6 năm 2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ do ông Bùi Minh K là người đại diện hợp pháp trình bày: Ngày 14/10/2008 Ngân hàng TMCP Đ Chi nhánh Quận L đã cấp hạn mức tín dụng 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng theo Giấy đăng ký mở thẻ tín dụng Visa ngày 14/10/2008 cho ông Trương Chí T, số tài khoản Visa: xxxxxxxxxx, lãi suất: 18%/năm, thời hạn vay: 12 tháng, mục đích vay: tiêu dùng. Từ năm 2008 đến nay ngân hàng không điều chỉnh lãi suất, không điều chỉnh biểu phí sử dụng thẻ tín dụng đối với ông Trương Chí T. Trong quá trình vay, từ ngày 20/10/2008 đến ngày 29/06/2017, ông Trương Chí T không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng theo như thỏa thuận. Do ông Trương Chí T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 31/10/2009, Ngân hàng TMCP Đ đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 23/10/2017, ông Trương Chí T còn nợ các khoản sau: dư nợ gốc: 13.022.636 đồng, dư nợ lãi: 24.017.010 đồng, dư nợ phí không lãi: 160.365.153 đồng (chốt ngày 15/01/2015, không phát sinh thêm). Tổng dư nợ : 197.404.799 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu bốn trăm lẻ bốn ngàn bảy trăm chín mươi chín đồng), yêu cầu ông T thanh toán khoản nợ trên cho ngân hàng và lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.

Bị đơn là ông Trương Chí T vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ do ông Bùi Minh K là người đại diện hợp pháp trình bày: Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn ông Trương Chí T thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 23/4/2018 là 199.182.379 đồng, bao gồm nợ gốc 13.022.636 đồng, nợ lãi 25.794.590 đồng và nợ phí không lãi (phí phạt do chậm thanh toán) 160.365.153 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông Trương Chí T có trách nhiệm thanh toán tiền lãi từ ngày 24/4/2018 cho đến khi ông T trả hết nợ cho ngân hàng.

Bị đơn là ôngTrương Chí T vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.

- Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa.

- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn trả cho Nguyên đơn số tiền tính đến ngày 23/4/2018 là 199.182.379 (Một trăm chín mươi chín triệu một trăm tám mươi hai ngàn ba trăm bảy mươi chín) đồng, trả một lần ngay khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra ông T có trách nhiệm tiếp tục trả lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tính từ ngày 24/4/2018 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Trương Chí T tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

- Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân

Bình: trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ bằng hình thức xác minh tình trạng cư trú của Bị đơn ông Trương Chí T nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ do ông Bùi Minh K là người đại diện theo ủy quyền có mặt.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ Bị đơn ông Trương Chí T đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng Bị đơn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Xét yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn thanh toán tiền nợ gốc 13.022.636 đồng, nợ lãi 25.794.590 đồng và nợ phí không lãi (phí phạt do chậm thanh toán) 160.365.153 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng DBank ngày 14/10/2008, Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng DBank (Thẻ chính) ngày 14/10/2008, Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng visa DBank và Biểu phí sử dụng thẻ tín dụng thì giữa Nguyên đơn và Bị đơn đã giao kết hợp đồng vay tài sản dưới hình thức sử dụng dịch vụ thanh toán tự động trừ thẻ tín dụng.

Căn cứ Bảng sao kê thẻ tín dụng visa DB, chi tiết dư nợ chưa thanh toán, Bảng tính lãi hồ sơ vay khách hàng do Ngân hàng cung cấp thì Bị đơn còn nợ Nguyên đơn tính đến ngày 23/4/2018 nợ gốc 13.022.636 đồng. Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên theo Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng visa DBank và Biểu phí sử dụng thẻ tín dụng, Bị đơn phải chịu tiền lãi vay 25.794.590 đồng, phí phạt do chậm thanh toán 160.365.153 đồng. Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền gốc, lãi và phí phạt do chậm thanh toán nói trên là có có cơ sở chấp nhận.

Bị đơn đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn nhưng Bị đơn không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện và số tiền còn thiếu nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của Nguyên đơn cùng các chứng cứ có trong hồ sơ xác định Bị đơn còn thiếu Nguyên đơn số tiền 199.182.579 đồng.

- Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn đề nghị thanh toán ngay một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là không trái luật nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn, buộc Bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn số tiền nợ còn thiếu tổng cộng là 199.182.579 đồng.

Ngoài số tiền trên, Bị đơn còn phải thanh toán cho Nguyên đơn tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tính từ ngày 24/4/2018 cho đến khi trả hết nợ.

Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm 9.959.119 đồng.

Hoàn lại cho Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 4.906.796 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006562 ngày 17/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ:

Buộc Bị đơn ông Trương Chí T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tính đến ngày 23/4/2018 là 199.182.379 (Một trăm chín mươi chín triệu một trăm tám mươi hai ngàn ba trăm bảy mươi chín) đồng, thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài số tiền trên, ông Trương Chí T còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng tính từ ngày 24/4/2018 cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.

Thi hành toàn bộ bản án tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trương Chí T phải chịu 9.959.119 (Chín triệu chín trăm năm mươi chín ngàn một trăm mười chín) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 4.906.796 (Bốn triệu chín trăm lẻ sáu ngàn bảy trăm chín mươi sáu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006562 ngày 17/7/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ