vanban.org

Bản án 2902/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 và Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008. Bà Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

[
Bản án số: 2902/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2023
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phan Thị Mai Hương

2/ Ông Nguyễn Phúc Duy Khang

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2452/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4080/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H- sinh năm 1984

Căn cước công dân số xxxxxxxxxx do Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày xx/yy/zzzz

Thường trú: phường H1, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên lạc: số 132 phường H1, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu vắng mặt)

2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn B- sinh năm 1982

Chứng minh nhân dân số xxxxxxxxx do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày xx/yy/zzzz

Thường trú: phường H1, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú: Khu phố 6, phường H1, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời trình bày của bà Nguyễn Thị H trong quá trình tham gia tố tụng:

Bà và ông Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống có tổ chức hỏi cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2003 tại Ủy ban nhân dân phường H1, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn ông bà chung sống không hạnh phúc do ông B không quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn giữa bà và gia đình chồng nhưng các bên không giải quyết được dẫn đến cuộc sống luôn căng thẳng. Bà đã cố gắng chịu đựng để duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng cuộc sống luôn mệt mỏi, bà đã không còn chịu đựng thêm được nữa. Ông bà đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian này không ai có nguyện vọng hàn gắn mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Nay cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, bà đã suy nghĩ kỹ và yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 và Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008 và không yêu cầu ông Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi con. Con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 đã đủ tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ngày 08/6/2023 bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Theo kết quả xác minh của Công an phường H1, thành phố T thì ông Nguyễn Văn B cư trú tại thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu vắng mặt, ông Nguyễn Văn B đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn B tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau theo giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường H1, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày xx/yy/zzzz. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp và được pháp luật công nhận. Nay bà Nguyễn Thị H nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn B, trong quá trình giải quyết vụ án bà H kiên quyết yêu cầu ly hôn.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H: Bà H và ông B kết hôn hợp pháp, theo bà H trình bày mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do ông B không quan tâm đến gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, mâu thuẫn giữa bà và gia đình chồng nhưng các bên không giải quyết được dẫn đến cuộc sống luôn căng thẳng. Ông bà đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà H, ông B tại Ủy ban nhân dân phường H1 và được phúc đáp tại văn bản số 1616/UBND ngày 02/12/2022 với nội dung do đương sự không gửi đơn xin hòa giải nên Ủy ban nhân dân phường không có cơ sở để cung cấp thông tin. Xét thấy, để duy trì cuộc sống gia đình hạnh phúc thì cả hai vợ chồng cần có sự tôn trọng, thương yêu, chia sẻ với nhau, cả hai đều cùng có mong muốn xây dựng gia đình chung sống cùng nhau. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông B vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của ông B. Trong khi đó, bà H kiên quyết yêu cầu ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông B đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số xx, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân phường H1, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày xx/yy/zzzz cho Nguyễn Văn C, giấy khai sinh số xx, quyển số 03 do Ủy ban nhân dân phường H1, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày xx/yy/zzzz cho Nguyễn Văn P có căn cứ xác định bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 và Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008.

Xét yêu cầu của bà H về việc nuôi dưỡng con chung: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho ông B về yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của bà H nhưng ông B không có ý kiến. Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu Nguyễn Văn P và cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà H. Từ những lý do trên nên yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn P sau khi ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận, giao con chung tên Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008 cho bà H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà H không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 đã đủ tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H xác định không có.

Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 và Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008.

Bà Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Văn P sinh ngày 19/10/2008. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Nguyễn Văn B cấp dưỡng nuôi con chung.

Con chung tên Nguyễn Văn C sinh ngày 10/7/2004 đã đủ tuổi trưởng thành.

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị H xác định không có.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng bà Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0006072 ngày 11/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ