- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đào Thị Huế Tuyên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh Phongvới ông"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Huế T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 290/2026/HNGĐ-ST Ngày: 03/7/2026 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Thúy Lan;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 591/2026/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2026 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 289/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/6/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Huế T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số F, tổ B, khu phố C, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1980; địa chỉ: Số C khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Đào Thị Huế T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Huế T và ông Nguyễn Thanh P1 tìm hiểu nhau khoảng 4 tháng rồi đi đến kết hôn, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 103, ngày 18/12/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tính không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, khiến cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Vợ chồng mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, ông P không lo làm ăn, một mình bà phải gánh vác mọi chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng 02 năm nay, sau khi sống ly thân thì mạnh ai nấy sống, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà Đào Thị Huế T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Đào Thị H Tuyên ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
Về con chung: Quá trình chung sống, chúng tôi có 01 con chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày 29/6/2018. Hiện nay con đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh P thống nhất với bà T về thời gian và điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 02/2025 thì vợ chồng ly thân do mâu thuẫn về kinh tế, ông P làm ăn thua lỗ nên có 1 khoản nợ riêng khiến bà T bức xúc, ông P và bà T có cãi nhau, ông chuyển về nhà cha mẹ đẻ sống cho đến nay. Sau khi ly thân, ông P có đến thăm con được 3 lần. Từ tháng 06/2025 đến nay không trực tiếp thăm con nhưng vẫn gọi điện hỏi han. Ông Nguyễn Thanh P xác định vẫn còn tình cảm với bà Đào Thị H Tuyên nhưng bà T nhất quyết ly hôn thì ông P cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày 29/6/2018. Hiện nay con đang sống chung với bà T. Nay ông đồng ý để cho bà T trực tiếp nuôi con và ông P không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án, nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Huế T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Đào Thị H Tuyên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn là ông Nguyễn Thanh P có địa chỉ Số C khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Huế T và ông Nguyễn Thanh P là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 103, ngày 18/12/2017 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.
Bà Đào Thị Huế T xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi vã, khiến cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không chia sẻ, đồng cảm với nhau các vấn đề trong cuộc sống nên vợ chồng đã sống ly thân. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà Đào Thị Huế T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P. Bị đơn ông Nguyễn Thanh P thống nhất với trình bày của bà T về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông xác định vẫn còn tình cảm với bà T, trường hợp bà T nhất quyết ly hôn thì ông P đồng ý ly hôn.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.
Việc bà Đào Thị Huế T và ông Nguyễn Thanh P sống ly thân trong khoảng thời gian dài, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng bà Đào Thị H T và ông Nguyễn Thanh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà Đào Thị Huế T.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày 29/6/2018. Bà Đào Thị Huế T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông Nguyễn Thanh P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Trong thời gian trước đây và hiện nay con chung vẫn do bà Đào Thị H Tuyên nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt, ông Nguyễn Thanh P cũng thống nhất để bà T trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của bà Đào Thị Huế T là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày 29/6/2018.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị Huế T không yêu cầu ông Nguyễn Thanh P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Huế T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Huế T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
Về con chung: Buộc ông Nguyễn Thanh P giao người con chung tên Nguyễn Yến N, sinh ngày 29/6/2018 cho bà Đào Thị Huế T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị Huế T không yêu cầu ông Nguyễn Thanh P thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau ly hôn, bà Đào Thị Huế T và ông Nguyễn Thanh P có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trường hợp ông Nguyễn Thanh P lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc bà Đào Thị Huế T nuôi con thì bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông P theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đào Thị Huế T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0036349 ngày 09/6/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp . HCM; - VKSND KV16, Tp . HCM; - Phòng THADS KV16; - UBND phường Phú An, Tp.Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng |