- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Phạm Văn Giang - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 290/2024/HSST Ngày 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Lý;
Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân H – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 298/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 229/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn G, sinh năm 1991 tại tỉnh Hà Tĩnh; thường trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên: Phạm Thái H1, sinh năm 1961, mẹ tên: Phạm Thị N, sinh năm 1962; vợ tên Trần Thị Kim G1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/6/2016, bị cáo bị Công an thành phố H xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong ngày 20/6/2016. Ngày 02/6/2024, bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Lê Doãn L, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt, có đề nghị vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1962; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn G, Hoàng Văn Đ, Trần Văn H2, Chu Văn Q cùng thuê căn nhà không số cạnh đường D, Khu dân cư R thuộc khu phố A, phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương ở, để đi làm công trình xây dựng.
Khoảng 17 giờ ngày 04/9/2019, G, Đ, H2 và Q tổ chức uống rượu tại căn nhà thuê thì Đ có rủ Lê Doãn L đến uống rượu. Trong lúc uống rượu, G và L xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau về việc ai quen biết dân anh chị giang hồ có tiếng ở tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, G đi xuống bếp lấy 01 con dao Thái Lan cán gỗ dài 20cm cầm giấu phía dưới cổ tay trái rồi quay lại. G dùng tay phải cầm ly rượu đi lại chỗ L ngồi mời L uống nhưng L không uống rượu mà uống bia. Do tức giận về việc tranh cãi trước đó và mời rượu nhưng uống bia, G dùng tay trái cầm con dao Thái Lan vừa lấy dưới bếp, đâm từ phía sau 01 nhát vào vùng hông trái của L, rồi bỏ đi. L bị đâm nên quay lại nhìn thì thấy G đứng phía sau, L liền nhặt lấy 01 cây búa ở cạnh đó ném về phía G nhưng không trúng. Sau đó, L được Đ và Q đưa đi cấp cứu tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh B. Đến ngày 08/10/2019, L đến Công an phường C, thị xã (nay là thành phố) B trình báo vụ việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra C (nay là thành phố) B thụ lý theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao lưỡi bằng sắt dài 20 cm.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 521/2019/GĐPY ngày 13/11/2019 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh B, kết luận:
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 26%.
- Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương thấu ngực - bụng trái khoảng liên sườn 7, 8, tràn khí màng phổi trái, thủng cơ hoành, rách thanh cơ dạ dày: sẹo chiều nằm ngang hơi chếch xuống dưới từ phải sang trái, hướng từ trước ra sau, bờ tương đối gọn, khả năng do vật sắc nhọn gây ra.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Phạm Thị N là mẹ ruột của Phạm Văn G đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho Lê Doãn La . La có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Văn G.
Tại Cơ quan điều tra:
Bị cáo Phạm Văn G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung thể hiện nêu trên. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động mẹ bị cáo là bà Phạm Thị N bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Doãn L số tiền là 5.000.000 đồng.
Bị hại anh Lê Doãn L trình bày: Giữa bị cáo bà bị hại không có quen biết nhau. Khoảng 19 giờ ngày 04/9/2019, khi đang uống rượu căn nhà thuê không số cạnh đường D, khu dân cư R thuộc khu phố A, phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương do G thuê ở, thì giữa bị hại với G xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau về việc ai quen biết dân anh chị giang hồ có tiếng ở tỉnh Hà Tĩnh, sau đó G đi xuống bếp lấy 01 con dao Thái Lan cán gỗ dài 20cm đâm từ phía sau đâm 01 nhát vào vùng hông trái của bị hại. Bị hại bị đâm nên có nhặt lấy 01 cây búa ở cạnh đó ném về phía G nhưng không trúng, lúc này G bỏ chạy, còn bị hại được Đ và Q đưa đi cấp cứu tại Bệnh viên Đa khoa tỉnh B. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận 5.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại từ mẹ của bị cáo G, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị N trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo G. Sau khi gây thương tích cho bị hại, G có tác động bà và bà đã thay bị cáo G bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Trong vụ án, bà không có yêu cầu gì.
Tại Cáo trạng số 300/CT – VKSBC ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phạm Văn G về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa;
- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Văn G đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị G từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao lưỡi bằng sắt dài 20 cm.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận 5.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại từ bà Phạm Thị N – là mẹ của bị cáo G, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xử lý.
- Bị cáo thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố; thống nhất về tội danh, mức hình phạt được thể hiện tại Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội trở lại xã hội, lao động và thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C(nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn G khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 04/9/2019, tại căn nhà thuê không số, khu dân cư R thuộc khu phố A, phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương, giữa bị cáo Phạm Văn G với bị hại Lê Doãn L không có quen biết nhau từ trước, trong lúc ngồi uống rượu, do mâu thuẫn tranh cãi với nhau và mời rượu Lê Doãn L không uống, Phạm Văn G đã dùng 01 dao thái lan dài 20 cm đâm vào vùng hông trái của L gây thương tích 26%. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Xét thấy, hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ thuộc điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và bị cáo dùng dao, là hung khí nguy hiểm thuộc điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự gây thương tích cho bị hại với tỉ lệ thương tích là 26%. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cố ý gấy thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tính chất: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết rõ việc cố ý gây thương tích là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động bà Phạm Thị N bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo đã đến cơ quan có thẩm quyền đầu thú về hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Về biện pháp tư pháp:
Về vật chứng thu giữ: Đối với 01 con dao lưỡi bằng sắt dài 20 cm, là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu và tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Doãn L đã nhận số tiền 5.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xử lý.
Xét Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật và hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử thống nhất.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Các Điều 106, 135, 136, 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn G phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn G: 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/6/2024.
2. Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 con dao lưỡi bằng sắt dài 20 cm.
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/10/2024 với nội dung: 01 con dao lưỡi bằng sắt dài khoảng 20 cm).
- Bị hại Lê Doãn L đã nhận số tiền 5.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xử lý.
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn G phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Bến Cát; - Chi cục THADS thành phố Bến Cát; - CQĐT CA thành phố Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Cẩm Hằng |