- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Thủy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 290/2020/HS-ST Ngày 18 - 9 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Cảm
2. Ông Nguyễn Công Chính
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Sim – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mười Hiền – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 251/2020/HSST ngày 11 tháng 8 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020, đối với:
Bị cáo: Lê Văn T ; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 28 tháng 02 năm 1994; Tại: Nghệ An;
Nơi cư trú: Bản P , xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lê Văn T1, con bà: Nguyễn Thị P; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Buôn Ma Thuột, từ ngày 18/5/2020 cho đến nay – Có mặt.
Bị hại: Anh Đoàn Văn T.
Địa chỉ Số 32 đường N, phường T, thành phố B, Đắk Lắk - Vắng mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1.Chị Nguyễn Thị Hồng H
Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Gia Lai - Vắng mặt
2. Bà Nguyễn Thị L
Địa chỉ: Thôn 5, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt
3. Bà Nguyễn Thị S
Địa chỉ: Buôn M, phường E, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Văn M
Địa chỉ: Làng L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai - Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 06/5/2020, Lê Văn T đi xe khách từ tỉnh Bình Phước đến bến xe tỉnh Đắk Lắk để đón xe đi sang tỉnh Lâm Đồng. Do không còn xe đi Lâm Đồng và đã hết tiền nên T ngồi tại ghế đá của bến xe đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, T đi bộ ra phía trước cổng bến xe rồi đi sang đường N , phường Tân An, thành phố B. T thấy tại bãi đất trống đối diện số nhà 32 N, thuộc tổ dân phố 7, phường T, thành phố B có để 01 xe Ô tô biển số 79C-xxxxx, nhãn hiệu Thaco, số loại K165, loại xe tải có mui, màu sơn xanh của anh Đoàn Văn T là chủ sở hữu, đầu xe ô tô quay vào trong bãi đất trống, đuôi xe hướng ra đường N. Chiếc xe đã được khóa chốt bên trong, cửa kính xe đã kéo lên hết, còn chìa khóa xe đang được cắm vào ổ khóa điện. Lúc này, khoảng 00 giờ 05 phút ngày 07/5/2020, T quan sát xung quanh không có người trông coi quản lý xe nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe ô tô trên. T đi bộ đến khu vực chợ đối diện số nhà 01/6 đường N, phường T, thành phố B để tìm vật dụng cạy phá khóa cửa xe ô tô, thì tìm thấy trong tủ gỗ có 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5cm, đầu nhọn, bản dẹp, cán dao bằng gỗ, là tài sản của bà Nguyễn Thị S. T cầm con dao này đi đến xe Ô tô biển số 79C-xxxxx dùng mũi dao cạy ổ khóa bên cửa phụ xe ô tô nhưng không được nên T trèo lên thùng xe, dùng con dao trên cạy ron cao su ở tấm kính phía sau cabin. T dùng tay kéo ron cao su và tấm kính để xuống đất, sau đó chui người vào trong cabin xe rồi nổ máy xe điều khiển đi tẩu thoát. Do không thông thạo đường nên T điều khiển xe ô tô đi lòng vòng trên các tuyến đường của thành phố B rồi sau đó đi theo đường Quốc lộ 14 hướng về tỉnh Gia Lai. Đi đến địa phận xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk do xe sắp hết dầu nên T rẽ vào cây xăng H, địa chỉ: Thôn 5, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì gặp bà Nguyễn Thị L là nhân viên cây xăng và đổ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền dầu. Sau khi đổ xong, T nói với bà L: “Cháu hết tiền rồi, cô cầm dùm cháu bằng lái, mai cháu quay lại chuộc?” thì bà L đồng ý. T đưa cho bà L 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh H, sinh năm 1995, trú tại: Xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (có sẵn trên xe ô tô tải) rồi tiếp tục điều khiển xe đến tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 03 giờ 23 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô trên qua Trạm thu phí số 02 tại Km 1667+470 Đức L - Gia Lai thì dừng xe tại trạm soát vé của chị Nguyễn Thị Hồng H. T hỏi chị H: “Hết bao nhiêu tiền?”, chị H trả lời: “Hết 50.000đồng”, thì T nói: “Em hết tiền rồi, cho em qua mai quay lại trả!” và được chị H đồng ý. T điều khiển xe ô tô trộm cắp qua trạm thu phí, đi đến địa phận thôn H, thị trấn N, huyện C tỉnh Gia Lai, T điều khiển xe tải vượt bên trái thì xảy ra va quẹt vào phía đầu xe bên tài của xe Ô tô khách giường nằm biển số 51B-xxxxx, do anh Nguyễn Văn M điều khiển chạy cùng chiều, làm bể gương chiếu hậu bên tài và xước sơn xe khách. T điều khiển xe ô tô bỏ chạy thì bị anh M cùng 02 xe ô tô khách khác vượt lên chặn lại. T xuống xe, anh M hỏi: “Mày chạy xe kiểu gì vậy, buồn ngủ hả?”, thì T không nói gì. Anh Minh hỏi tiếp: “Nhà mày ở đâu?”, T trả lời: “Nhà em ở gần bến xe tỉnh Đắk Lắk, đi sang Ngọc Hồi chở heo!”. Rồi T hỏi anh M về chi phí sửa chữa thì anh M nói hết 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). T nói: “Giờ em không mang theo tiền, để mai em gọi cho gia đình sang!” thì anh M đồng ý và điều khiển xe Ô tô biển số 79C-xxxxx chở T đi đến đậu trước cây xăng H, địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, cất chìa khóa xe và nói với T : “Mày ngủ ở trên xe đi, sáng gọi gia đình sang nói chuyện!”, rồi anh M đi về nhà ngủ. Sau đó, T bỏ về huyện T, tỉnh Nghệ An lẩn trốn. Ngày 07/5/2020 anh Đoàn Văn T phát hiện bị mất xe ô tô nên đã trình báo Công an phường T.
Cơ quan điều tra tạm giữ 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5cm, đầu nhọn, bản dẹp, cán dao bằng gỗ mà bị cáo Lê Văn T đã sử dụng để cạy phá xe ô tô; 01 giấy phép lái xe số xxxxxxxxxxxx mang tên Nguyễn Thanh H do Sở Giao thông Vận tải Quảng Ngãi cấp ngày 28/7/2014 và 01 xe Ô tô nhãn hiệu Thaco - K165, biển số 79C - xxxxx, số máy JT689013, số khung RNHA500BKFCxxxxxx sản xuất năm 2016, đã qua sử dụng.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 95/KLĐG ngày 29/5/2020, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột kết luận: 01 chiếc xe Ô tô nhãn hiệu Thaco - K165, biển số 79C - xxxxx, số máy JTxxxxxx, số khung RNHA500BKFCxxxxxx, sản xuất năm 2016, đã qua sử dụng, trị giá 215.000.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số 251/CT-VKS-TP.BMT ngày 07/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Lê Văn T về tội“Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, sau khi phân tích, đánh giá tình chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn T theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T mức án từ: 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Đoàn Văn T là chủ sở hữu nhận quản lý và sử dụng xe Ô tô nhãn hiệu Thaco - K165, biển số 79C - xxxxx, số máy JTxxxxxx, số khung RNHA500BKFCxxxxxx, sản xuất năm 2016 và anh T đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã lại 01 giấy phép lái xe số 510147009476, mang tên Nguyễn Thanh H do Sở Giao thông Vận tải Quảng Ngãi cấp ngày 28/7/2014 cho anh Nguyễn Thanh H là chủ sở hữu quản lý, sử dụng, anh H không có yêu cầu gì khác.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5cm, đầu nhọn, bản dẹp, cán dao bằng gỗ, là tài sản của bà Nguyễn Thị S, bà S không yêu cầu nhận lại, con dao đã bị han rỉ không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận bổ sung gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:
Vào khoảng 00 giờ 05 phút ngày 07/5/2020, trước số nhà 32 N, phường T , thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Lê Văn T đã lén lút trộm cắp 01 xe ô tô tải biển số 79C-084.67 của anh Đoàn Văn T, sau đó điều khiển xe ô tô chạy trốn trên đường sang tỉnh Gia Lai thì bị phát hiện, trị giá chiếc xe là 215.000.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản’’ được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản’’ được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Điều 173 Bộ Luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
……………………..
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị một cách thích đáng, nhưng do ý thức coi thường pháp luật muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phát hiện. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiếu số nên trình độ nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Với tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc ô tô nhãn hiệu Thaco - K165, biển số 79C - xxxxx số máy JTxxxxxx, số khung RNHA500BKFCxxxxxx, sản xuất năm 2016, là tài sản của anh Đoàn Văn T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Đoàn Văn T là chủ sở hữu, anh T đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với 01 giấy phép lái xe số 510147xxxxxx, mang tên Nguyễn Thanh H , do Sở Giao thông Vận tải Quảng Ngãi cấp ngày 28/7/2014. Quá trình điều tra, anh H h khai đã làm rơi giấy phép lái xe này khi đang lưu thông trên đường N , phường Tân An, thành phố B vào cuối tháng 4/2020 thì anh Đoàn Văn T nhặt được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã trả lại giấy phép trên cho anh Nguyễn Thanh H là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
Đối với 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5cm, đầu nhọn, bản dẹp, cán dao bằng gỗ, là tài sản của bà Nguyễn Thị S, bà S không yêu cầu nhận lại, con dao đã bị han rỉ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với hành vi khác:
Đối với việc khi bị cáo T chạy xe va quẹt làm bể gương chiếu hậu bên tài và xước sơn xe Ô tô khách giường nằm biển số 51B-xxxxx của anh Nguyễn Văn M nhưng anh M không yêu cầu T phải bồi thường nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với việc bị cáo T nợ tiền đổ dầu 300.000 đồng của bà Nguyễn Thị L và tiền phí qua trạm 50.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hồng H, bà L và chị Hạn không yêu cầu T trả lại tiền nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi làm hư hỏng xe Ô tô tải biển số 79C-xxxxx, do giá trị nhỏ anh Đoàn Văn T không yêu cầu bồi thường và xử lý đối với Lê Văn T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 173 Bộ Luật Hình sự.
1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T : 07 năm 06 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 18/5/2020.
2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã Quyết định xử lý vật chứng trả cho anh Đoàn Văn T là chủ sỡ hữu nhận quản lý, sử dụng 01 chiếc ô tô nhãn hiệu Thaco - K165, biển số 79C xxxxx, số máy JT689013, số khung RNHA500BKFCxxxxxx, sản xuất năm 2016 và trả cho anh Nguyễn Thanh H 01 giấy phép lái xe số 510147xxxxx, mang tên Nguyễn Thanh H , sinh năm 1995, trú tại: xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, do Sở Giao thông Vận tải Quảng Ngãi cấp ngày 28/7/2014.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5cm, đầu nhọn, bản dẹp, cán dao bằng gỗ,
Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/8/2020 giữa Công an Tp. Buôn Ma Thuột với Chi cục Thi hành án dân sự Tp.Buôn Ma Thuột. Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp.Buôn Ma Thuột.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TAND tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; VKSND TP. BMT; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Công an TP. Buôn Ma Thuột; - CCTHADS TP. Buôn Ma Thuột; - THA phạt tù TP. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo, các đương sự; Lưu HS+ VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Đã ký) Lê Thị Mai |