- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng N - K1Đ201 - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 290/2018/HS-ST Ngày: 28 – 11 – 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Ngọc Phương;
Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích.
- Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Loan, Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 290/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 286/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng N (tên gọi khác: Ty), sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Dương; nơi thường trú: khu phố A, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Lâm K (đã chết) và bà Nguyễn Thanh N, sinh năm 1959; vợ Võ Hoàng Trúc L (nhưng đã ly hôn) và có 03 người con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại và có mặt.
- Bị hại: Bà Thạch Thị T, sinh năm 1948; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
1. Ông Chao P, sinh năm 1974; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (là chồng bị hại);
2. Ông Chao H, sinh năm 1977; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (là con bị hại);
3. Ông Chao Tí N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (là con bị hại);
4. Bà Chao Thị Ha R, sinh năm 1991; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Trà Vinh (là con bị hại);
5. Ông Chao Đ, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (là con bị hại).
- Người đại diện hợp pháp cho ông Chao P, ông Chao H, ông Chao Tí N, bà Chao Thị Ha R: Ông Chao Đ, sinh năm 1981; nơi cư trú: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1976; nơi cư trú: Ấp A, xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Huỳnh Quang T, sinh năm 1958; nơi cư trú: khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 26-11-2017, Nguyễn Hoàng N điều khiển xe ô tô biển số 61A-321.76 lưu thông trên đường Nguyễn Chí T hướng từ Chợ B về đường Hồ Văn M, khi đến đoạn đường thuộc khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương, do bị cáo ngủ gục, không quan sát được phía trước nên xảy ra va chạm với xe lăn điện 03 bánh do bà Thạch Thị T đang lưu thông cùng chiều phía trước, hậu quả làm bà T tử vong tại chỗ.
Theo biên bản khám nghiện hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan tai nạn giao thông xác định:
Xe lăn 03 bánh ngã nghiêng bên trái sát lề phải, trục bánh sau cách lề phải 0,50m, trục bánh trước cách lề phải 1,20m và cách trụ đèn chiếu sáng số 3SC5 là 7,10m, để lại 02 vết cày. Vết cày 1: Dài 26,90m song song với vết cày số 2 và cách vết cày 2 là 0,60m, đầu vết cày 1 ngang với vết cày 2 và cách lề phải 0,70m, cuối vết cày 1 cách lề phải 0,80m, vết cày không thẳng mà cong. Vết cày 2: Dài 68,80m, không thẳng với cuối vết cày nằm ngay trụ bánh sau xe lăn 03 bánh, đầu vết cày cách lề phải 1,30m.
Nạn nhân Thạch Thị T nằm sấp, hai chân thẳng, nằm trên chiều đường đi hướng Hồ Văn M, đầu nạn nhân hướng về lề phải, cách lề phải 0,50 cm và cách cuối vết cày 1 là 0,80m, gót chân trái nạn nhân cách lề phải 1,40m, và cách trụ sau xe lăn 03 bánh là 40,50cm.
Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 1078 ngày 29-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của Thạch Thị T là do đa chấn thương, chấn thương ngực bụng, dập 02 phổi, vỡ tĩnh mạch chủ dưới, vỡ gan, choáng mất máu không hồi phục.
Bản kết luận giám định số: 66/GĐ-PC54 ngày 08-01-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:
Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 61A-321.76 với xe lăn điện là phần biển số, cảng trước của xe ô tô va chạm với hai bánh sau của xe lăn điện.
Cơ chế hình thành dấu vết trên xe ô tô biển số 61A-321.76 với xe lăn điện là: Hai xe lưu thông cùng chiều thì xảy ra va chạm làm xe lăn điện bị ngã bên phải trượt trên mặt đường tạo ra các dấu vết trên phương tiện và hiện trường, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.
Bản Cáo trạng số 290/CT-VKS-TA ngày 08-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Hoàng N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến gì về nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố đối với bị cáo.
- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hoàng N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y, lời khai của người làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 04 giờ 50 phút ngày 26-11-2017, tại đoạn đường Nguyễn Chí T thuộc khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Hoàng N điều khiển xe ô tô biển số 61A-321.76 lưu thông theo hướng từ Chợ B về đường Hồ Văn M, do ngủ gục, không quan sát được phía trước nên không giữ được khoảng cách an toàn dẫn đến va chạm với xe lăn điện do bà T điều khiển làm bà T chết tại chỗ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 12 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 làm chết 01 người đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, được cấp giấy phép lái xe theo quy định, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành, khi lưu thông không quan sát phía trước và không giữ khoảng cách an toàn. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng, tước đi mạng sống của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phương, do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại; đại diện gia đình bị hại có đơn yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nơi cư trú rõ ràng, do đó lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc áp dụng Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cho bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương là có căn cứ nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự:
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ thể hiện đã nhận 115.000.000 đồng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe lăn điện 03 bánh bị hư hỏng, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:
01 xe ô tô biển số 61A-321.76 là tài sản của bị cáo, 01 xe lăn điện 03 bánh là tài sản của bị hại. Cơ quan Điều tra đã giao trả cho chủ sở hữu và người đại diện hợp pháp của bị hại.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 202; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009);
- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án 28-11-2018.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự năm 2010.
2. Về án phí sơ thẩm:
Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của người bị hại; - Lưu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |