vanban.org

Bản án 290/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 31/10/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 290/2018/DS-PT
Ngày: 31/10/2018
Về việc tranh chấp
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Lê H ng

c

Các Thẩm phán:

Ông Trần Ph c Hội

Ông Tr ơng Ph c Tự

- Thư phiên tòa: ng guyễn Văn Trãi, Th ký Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp

- i di n Vi n i m sát nh n d n t nh ng Tháp: Ông Bùi Văn Th n, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 31 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2018/TLPT-DS ngày 02 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố S bị kháng cáo;

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 259/2018/QĐ – PT ngày 04/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 267/2018/QĐ-PT ngày 03/10/2018 giữa các đ ơng sự:

1. guyên đơn: Bà Võ Thị Kim C, sinh năm 1960;

g ời đại diện theo ủy quyền: Chị Trần gọc T, sinh năm 1985

Địa ch : khóm T, ph ờng T, thành phố S, t nh Đ ng Tháp

g ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật s guyễn Văn T1, Văn phòng luật s guyễn Văn T1 thuộc đoàn luật s t nh Đ ng Tháp.

2. Bị đơn: ng guyễn Ph c L, sinh năm 1967;

Địa ch : khóm T1, ph ờng T, thành phố S, t nh Đ ng Tháp

g ời đại diện theo ủy quyền: Lại Phan Xuân Đ, sinh năm 1985, địa ch : khóm T2, ph ờng A, TP S, t nh Đ ng Tháp

g ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật s H Thị X, luật s Võ Thị T3, Văn phòng luật s X thuộc Đoàn luật s t nh Đ ng Tháp

3. g ời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Võ Văn H, sinh năm 1966; trú tại: Khóm T1, ph ờng T, thành phố S, t nh Đ ng Tháp

3.2 Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1924;

3.3 Anh guyễn Thanh T4, sinh năm 1983;

3.4 Chị Trần gọc T, sinh năm 1985;

g ời đại diện theo ủy quyền cho bà L1, anh T4: Chị Trần gọc T, sinh năm 1985;

Cùng địa ch : Số nhà 265, khóm T, ph ờng T, thành phố S, t nh Đ ng Tháp

3.5 Uỷ ban nhân dân thành phố S

Trụ sở: Khóm A, Ph ờng B, thành phố S, t nh Đ ng Tháp

g ời đại diện theo pháp luật: ng Võ Thanh T4 – Chủ tịch UB D thành phố S

g ời đại diện theo ủy quyền: ng guyễn Văn H1- Phó Chủ tịch UB D thành phố S.

4 g ời kháng cáo: Ông guyễn Ph c L là bị đơn.

Có m t: Chị T, chị Đ, luật s T1, luật s T3; Vắng m t: Ông H, luật s X, ông H2 có đơn xin xét xử vắng m t).

NỘI DUNG V ÁN:

Nguyên đơn Võ Thị Kim C trình bày: gu n gốc phần đất tranh chấp là của cha ch ng bà C tên guyễn Văn Y t ng cho vào năm 1997 v i diện tích 1.020 m2, có làm giấy tay gày 07/11/1997 khi làm thủ tục t ng cho theo quy định thì ông Y thay đổi ch cho diện tích 826m2 Theo đó, bà C đ ợc cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất diện tích 826m2 Sau đó, bà C có trả lại ông Y 246m2 nên diện tích còn lại 580m2. Năm 2004 bà C xin cấp đổi giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất theo bản đ địa chính chính quy diện tích đ ợc cấp là 579,9m2 thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 tọa lạc tại khóm T1, ph ờng T, thành phố S. Sau khi cấp đổi tháng 7 năm 2004 bà C chuyển nh ợng cho em ruột là Võ Văn H 500 m2. h vậy, diện tích còn lại theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất là 79,9m2. Tuy nhiên, phần đất còn lại giáp v i đất ông L có cắm trụ đá làm ranh gi i nh ng bà C không th ờng xuyên sử dụng do phần đất này dùng làm khu mộ g m có 03 cái mộ và 01 cái kim t nh, đo đạc thực tế diện tích 177 m2 thể hiện tại các mốc 19-a-18-e-17-d-c-f’-f-19 trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S và hiện do ông L quản lý, vì phần đất này giáp v i phần đất thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Bà C xác định phần đất đo đạc thực tế diện tích 177m2 thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 do bà C đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất

Nay bà C yêu cầu ông L giao trả phần đất diện tích 177 m2 thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 do bà C đ ng tên quyền sử dụng đất thể hiện tại các mốc 19-a-18-e-17-d-c-f’-f-19 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S cho bà C quản lý sử dụng

Yêu cầu ông L cho sử dụng lối đi thể hiện tại các mốc 1-2-3-f-19-20-1 diện tích 98,1m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, làm lối đi chung để bà C có lối đi vào khu mộ trên phần đất diện tích 177 m2 thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 do bà C đ ng tên quyền sử dụng đất Ngoài ra, bà C không yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Nguyễn Phước L trình bày: gày 21/01/2011, ông guyễn Văn Y là cha ruột của ông L) lập Hợp đ ng t ng cho quyền sử dụng đất tại Phòng công ch ng số 2 t nh Đ ng Tháp để cho ông L toàn bộ quyền sử dụng đất của ông Y có diện tích 1 137 2 m2 Khi tiến hành thủ tục t ng cho và khi ông L đ ợc cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất bà C biết nh ng không phát sinh tranh chấp Khi cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ông L không có đo đạc thực tế vì ch làm thủ tục chuyển từ tên ông Y sang cho ông L. Ông L xác định phần đất đo đạc thực tế diện tích 1.046,8m2 g m các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-1 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S là thuộc thửa số 112, tờ bản đ 08 của ông L đã đ ợc Uỷ ban thị xã nay là thành phố S) cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp

Theo Biên bản hòa giải ngày 12/4/2013 tại ph ờng T giữa bà C và ông L đã thống nhất sau khi tiến hành đo đạc thực tế phần đất của ông L nếu thừa ra so v i quyền sử dụng đất ông L đ ợc cấp tại thửa số 112, tờ bản đ 8, giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 23/02/2011, diện tích 1 137,2 m2 thì phần đất thừa ra là của bà C. Tuy nhiên kết quả đo đạc thực tế phần đất ông L hiện đang sử dụng là 1 046,8m2 nh vậy không có thừa đất của bà C tại thửa 109 nên yêu cầu của bà C là không đúng

ay ông guyễn Ph c L đ ng ý cho bà C sử dụng lối đi g m các mốc 1-2-3-f-19-20-1 diện tích 98,1m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất để làm lối đi chung.

Ông L không đ ng ý giao trả phần đất diện tích 177 m2 g m các mốc 19-a-18-e-17-d-c-f’-f-19 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S cho bà C quản lý sử dụng, vì phần đất trên thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất

Ngoài ra, ông L trình bày: hiện Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất thửa 112, tờ bản đ 08, ông L đã thế chấp cho Quỹ tín dụng Tân Quy Tây để vay số tiền là 60 000 000đ ng Sáu m ơi triệu đ ng) và ch a giải chấp, hiện bản chính giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất Qũy tín dụng Tân Quy Tây đang giữ

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Ngọc T, bà Ph m Thị Li u , anh Nguyễn Thanh T4 ủy quyền cho chị Trần Ngọc T trình bày:

Chị T, bà L1, anh T4 thống nhất theo yêu cầu của bà Võ Thị Kim C yêu cầu ông L trả lại phần đất khu m mã) g m các mốc 19-a-18-e-17-d-c-f’-f-19 diện tích 177 m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Yêu cầu ông L cho sử dụng lối đi g m các mốc 1-2-3-f-19-20-1 diện tích 98,1m2 thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, làm lối đi chung để bà C có lối đi vào khu mộ trên phần đất diện tích 177 m2 thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 do hộ bà C đ ng tên quyền sử dụng đất Ngoài ra, chị T, bà Liểu và anh T4 không có yêu cầu gì khác Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn H trình bày: Ông H xác định phần đất g m các mốc a-b-e-18 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S không thuộc quyền sử dụng đất của ông H nh Ủy ban thành phố S xác định Phần đất của ông H giáp v i đất bà C, đất ông L đã thống nhất ranh gi i v i nhau và không có tranh chấp ng H không có yêu cầu gì trong vụ án này Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

g ời đại diện theo ủy quyền của Uỷ ban nhân dân thành phố S ông guyễn Văn H2 trình bày:

Trình tự thủ tục cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ông guyễn Ph c L thửa 112, tờ bản đ 08 và giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị Kim C thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 là đúng quy định pháp luật

Phần đất tranh chấp g m các mốc d-c-g-b-e-17-d diện tích 53 m2 và các mốc a-b-e-18 –a diện tích 70m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S là thuộc thửa 109, tờ bản đ 8 đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho bà Võ Thị Kim C.

Phần đất tranh chấp g m các mốc 19-f-f’-c-g-b-a-19 diện tích 54 m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S là thuộc một phần thửa 112, tờ bản đ 8 đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho ông guyễn Ph c L.

Ủy ban không yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án Qũy tín dụng nhân dân Tân Quy Tây có văn bản ý kiến xác định không yêu cầu giải quyết đối v i phần nợ vay của ông L v i Quỹ tín dụng nhân dân Tân Quy Tây trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất này. Đ ng thời, Qũy tín dụng nhân dân Tân Quy Tây xin không tham gia tố tụng trọn g vụ án này Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định

T i n n d n

16/2018 DS-ST ngày 23 th ng 5 năm 2018 c a T a n nh n d n thành ph S đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Võ Thị Kim C yêu cầu ông guyễn Ph c L trả lại phần đất diện tích 177 m2 g m các mốc 19-a-18-e-17-d-c-f’-f-19 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Buộc ông guyễn Ph c L trả lại cho bà Võ Thị Kim C diện tích đất 123m2 g m các mốc d- c- g- b- a- 18- e-17- d thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc thửa số 109, tờ bản đ số 8, Giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Võ Thị Kim C ngày 25/3/2004 ( Có sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S kèm theo).

Bác yêu cầu của bà C yêu cầu ông L trả phần đất g m các mốc 19-f-f’-c-g-b-a-19 diện tích 54 m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Công nhận sự tự nguyện của ông guyễn Ph c L cho bà Võ Thị Kim C sử dụng lối đi g m các mốc 1-2-3-f-19-20-1 diện tích 98,1m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, làm lối đi chung

Công nhận sự tự nguyện của ông guyễn Ph c L cho bà Võ Thị Kim C sử dụng lối đi g m các mốc f-f’-g-c-f diện tích 2,3m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất để bà C có lối đi vào phần đất thửa số 109, tờ bản đ số 8 do bà C đ ng tên quyền sử dụng đất.

goài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, lệ phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, h ng d n thi hành bản án và thời hạn kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/6/2018, ông guyễn Ph c L là bị đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố S v i nội dung, ông guyễn Ph c L yêu cầu:

- Bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Kim C về việc yêu cầu ông trả diện tích 123m2 nằm trong phạm vi các mốc d-c-g-b-a-18-e-17 về mốc d, theo sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015, bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc một phần thửa số 109, tờ bản đ số 8;

- ng guyễn Ph c L không đ ng ý cho bà Võ Thị Kim C sử dụng lối đi có diện tích 98,1m2, nằm trong phạm vi các mốc 1-2-3-f-19-20 về mốc 1 và diện tích 2,3m2 nằm trong phạm vi các mốc f-f’-g-c về mốc f, theo sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015, bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc thửa 112, tờ bản đ số 8 và xem xét án phí sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm:

g ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông guyễn Ph c L luật s Võ Thị T3 cùng trình bày: Diện tích tranh chấp là phần đất m mã ông bà của ông L nên ông Y không thể cho bà C, ông Y ch cho bà C chiều dài khoảng 40 mấy mét ch không phải 60m, số 60m do nguyên đơn sửa; khi mở đ ờng Sa Nhiên-Cai Dao thêm 6m thì phù hợp v i lời trình bày của ông L là ông Yên ch cho bà C chiều dài 40 mấy mét; phần 246m2 không phải bà C trả lại cho ông Y để làm lối đi chung, việc giảm diện tích đất của bà C là do nhà n c thu h i để làm đ ờng Sa Nhiên-Cai Dao; đối v i 05 trụ đá ông Y tr ng để làm ranh giữa hai bên v n còn, diện tích đất tranh chấp bà C không có sử dụng do đất là khu mộ nên bà C đòi lại 123m2 là không có căn c . Đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L, sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố S.

g ời đại diện theo ủy quyền ông guyễn Ph c L là chị Lại Phan Xuân Đ trình bày: Thống nhất lời trình bày của luật s , không trình bày bổ sung.

g ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị Kim C: Luật s guyễn Văn T1 trình bày: Bà C là chị dâu, ông L là em ch ng, sau khi ch ng bà C chết nh ng v n đ ợc ông Y là cha ch ng quan tâm cho đất để sử dụng; đối v i diện tích 123m2 không có lợi ích gì, thực ra ch để làm khu mộ; bà C cũng ch a tái giá, anh T4 con bà C cũng là cháu nội của ông Y. Do đó, không thể nói không còn huyết thống nên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố S.

g ời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Võ Thị Kim C và những ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hộ bà C là chị Trần gọc T trình bày: Thống nhất lời trình bày của luật s , không trình bày bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đ ng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật Các đ ơng sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát xác định bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án thành phố S đã xử hoàn toàn có căn c phù hợp v i quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố S.

Sau khi nghiên c u các tài liệu và ch ng c có trong h sơ, đ ợc thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời đề nghị của luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, bị đơn, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông guyễn Ph c L về việc không đ ng ý trả diện tích 123m2 nằm trong phạm vi các mốc d-c-g-b-a-18-e-17 về mốc d, theo sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015, bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc thửa số 109, tờ bản đ số 8 Hội đ ng xét xử xét thấy:

- gu n gốc phần đất tranh chấp là của ông guyễn Văn Y, năm 1997 ông Y làm hợp đ ng t ng cho bà C, diện tích 826m2, ngày 06/12/1997 bà C đ ợc cấp QSDĐ thửa số 765, tờ bản đ 1A, diện tích 826m2. ăm 2004, khi đo đạc để cấp đổi giấy ch ng nhận QSDĐ theo bản đ địa chính chính quy thì diện tích đất của bà C giảm 246m2 để làm lối đi vào đất ông Y, phần diện tích này đ ợc nhập vào thửa 112 của ông Y Diện tích đất bà C còn lại là 579,9m2 thửa 109, tờ bản đ số 8 theo bản đ địa chính chính quy. Ngày 11/7/2004 bà C chuyển nh ợng cho ông Võ Văn H diện tích 500 m2, diện tích bà C còn lại theo giấy ch ng nhận QSDĐ là 79,9m2 thửa số 109 tờ bản đ số 8, đo đạc thực tế khi tranh chấp là 123m2.

- Theo xác định của UB D thành phố S, phần diện tích đất tranh chấp 123m2 nằm trong phạm vi các mốc d-c-g-b-a-18-e-17 về mốc d, theo sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015, bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc thửa số 109, tờ bản đ số 8 của bà Võ Thị Kim C nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L đối v i diện tích 123m2 do bà C đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông guyễn Ph c L về việc không đ ng ý cho bà Võ Thị Kim C sử dụng lối đi có diện tích 98,1m2, nằm trong phạm vi các mốc 1-2-3-f-19-20 về mốc 1 và diện tích 2,3m2 nằm trong phạm vi các mốc f-f’-g-c về mốc f, theo sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015, bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc thửa 112, tờ bản đ số 8 Hội đ ng xét xử xét thấy:

- Tại phiên tòa sơ thẩm ông L đ ng ý cho gia đình bà C đ ợc sử dụng lối đi trên làm lối đi chung nh ng quyền sử dụng đất phải do ông L đ ng tên và bà C cũng đ ng ý theo yêu cầu này của ông L Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận sự tự nguyện của ông L về việc cho gia đình bà C đ ợc sử dụng lối đi trên làm lối đi chung vào khu mộ

- Đ ng thời ăm 2004 khi đo đạc để cấp đổi giấy ch ng nhận QSDĐ theo bản đ địa chính chính quy thì bà C cũng tự nguyện giảm đi phần diện tích này để trả lại cho ông Y làm dối đi chung vào đất của ông Y.

Do đó việc ông L kháng cáo không đ ng ý cho bà C đ ợc sử dụng lối đi trên vào khu mộ là không có căn c chấp nhận

[3] Từ những phân tích nêu trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của ông L là không có căn c chấp nhận

[4] Xét thấy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố S đã xử Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Võ Thị Kim C, buộc ông guyễn Ph c L trả lại cho bà Võ Thị Kim C diện tích đất 123m2 g m các mốc d- c- g- b- a- 18-e-17 về mốc d, thuộc thửa số 109, tờ bản đ số 8; Công nhận sự tự nguyện của ông guyễn Ph c L cho bà Võ Thị Kim C sử dụng lối đi g m các mốc 1-2-3-f-19-20-1 diện tích 98,1m2 và các mốc f-f’-g-c-f diện tích 2,3m2 thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, làm lối đi chung là phù hợp nên giữ nguyên bản án sơ thẩm

[5] Xét đề nghị của luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông L, sửa án sơ thẩm là không có căn c chấp nhận

[6] Xét đề nghị của luật s bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà C đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn c nên chấp nhận

[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUY T Đ NH:

Căn c khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; ghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông guyễn Ph c L

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2018/DS-ST ngày 23/5/2018 của Tòa án nhân dân thành phố S.

Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Võ Thị Kim C yêu cầu ông guyễn Ph c L trả lại diện tích đất 177 m2 g m các mốc 19-a-18-e-17-d-c-f’-f-19 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Buộc ông guyễn Ph c L trả lại cho bà Võ Thị Kim C diện tích đất 123m2 g m các mốc d- c- g- b- a- 18- e-17- d thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, thuộc thửa số 109, tờ bản đ số 8, giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Võ Thị Kim C g m: Bà C, bà L1, anh T4 và chị T ngày 25/3/2004 (Kèm theo sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S).

Không chấp nhận yêu cầu của bà C yêu cầu ông L trả phần đất g m các mốc 19-f-f’-c-g-b-a-19 diện tích 54 m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S.

Công nhận sự tự nguyện của ông guyễn Ph c L cho bà Võ Thị Kim C sử dụng lối đi g m các mốc 1-2-3-f-19-20-1 có diện tích 98,1m2 và lối đi g m các mốc f-f’-g-c-f có diện tích 2,3m2 thể hiện trên sơ đ đo đạc ngày 31/7/2015 bổ sung ngày 18/01/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S thuộc thửa 112, tờ bản đ 8 do ông L đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất để bà C có lối đi vào phần đất thửa số 109, tờ bản đ số 8 do bà C đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

ng guyễn Ph c L nộp 6.150.000 đ ng Sáu triệu một trăm năm m ơi nghìn đ ng) án phí dân sự sơ thẩm

Bà Võ Thị Kim C nộp 2.700.000 đ ng Hai triệu bảy trăm nghìn đ ng) án phí dân sự sơ thẩm Bà C đã nộp tạm ng án phí số tiền 200 000 đ ng biên lai số 023336 ngày 15/10/2014; 4.026.000 đ ng biên lai số 06470 ngày 06/3/2017; 2.660.000 đ ng biên lai số 0000844 ngày 06/02/2018, tổng cộng 6 886 000 đ ng, sau khi khấu trừ tiền án phí bà C đ ợc hoàn lại tiền tạm ng án phí 4 186 000 đ ng Bốn tri u một trăm tám mươi sáu nghìn đ ng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố S.

3. Về lệ phí xem xét, thẩm định tại chổ, định giá tài sản và đo đạc:

Bà Võ Thị Kim C nộp 2 859 191đ ng đã tạm ng và chi xong)

ng guyễn Ph c L nộp 2 859 191đ ng (đã chi xong) để hoàn trả cho bà Võ Thị Kim C vì bà C đã tạm ng tr c.

4 Về án phí dân sự phúc thẩm; ng guyễn Ph c L phải chịu 300 000 đ ng án phí dân sự phúc thẩm, nh ng đ ợc khấu trừ 300 000 đ ng tiền tạm ng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai 0004561 ngày 06/6/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố S.

5. Trong tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì ng ời đ ợc thi hành án, ng ời phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị c ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thời hiệu thi hành án dân sự đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án /

Cỡ chữ