- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Hoàng Thị D ® îc ly h«n với anh Lù Văn Kh.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÀO CAI B¶n ¸n sè: 29/2023/ HNGĐ - ST Ngµy 07 th¸ng 9 n¨m 2023. Về việc: “ Ly h«n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Lựa
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Thứ
2. Bà Vũ Thị Vẻ.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh LC.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VB, tỉnh LC tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh LC xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/4/2023. Về việc “Ly h«n, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2023/QĐXX ST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐ-HNGĐ ngày 23/8/2023, giữa:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị D, sinh năm 1986.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2 MH, xã ML, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lù Văn Kh, sinh năm 1984.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Anh Lù Văn Kh, sinh năm 1984.
Nơi ĐKHKTT: Thôn 2 MH, xã ML, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt không có lý do.
Người làm chứng: Anh La Ngọc Hải, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn 2 MH, xã ML, huyện VB, tỉnh LC. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của chị Hoàng Thị D trình bày, có yêu cầu: Năn 2004 chị D và anh Kh tự nguyện chung sống với nhau theo phong tục tập quán. Đến ngày 18/3/2005, chị và anh Lù Văn Kh tự nguyện đăng ký kết hôn t¹i Ủy ban nhân dân xã Minh Lương. Vợ chồng hạnh phúc được khoảng 10 năm đến năm 2015 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, ngoài ra anh Kh còn có biểu hiện sử dụng ma túy nên dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, đã cho anh Kh nhiều cơ hội nhưng anh Kh vẫn giữ nguyên phong cách sống dẫn đến thường xuyên điều qua tiếng lại. Mâu thuẫn giữa chị và anh Kh đã bị rạn nứt, không có cách nào hàn gắn tình cảm, gay gắt vào tháng tháng 6/2023, anh Kh bỏ nhà đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì và đã sống ly thân, bỏ mặc không còn quan tâm tính đến nay khoảng 03 tháng nên chị không có thai với anh Kh. Nay chị xác định, tình cảm vợ chồng không còn cách nào hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không được Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị, chị tiếp tục sống ly thân, nhất định không đoàn tụ vợ chồng với anh Kh. Chị đề nghị ® îc ly h«n víi anh Lù Văn Kh.
Về con: Chị D xác định, có 02 con chung là cháu Lù Thị Kim, sinh ngày 24/5/2005 và cháu Lù Thị Thúy L, sinh ngày 15/11/2009. Hiện tại cháu Kim đã trưởng thành, cháu L đang sống cùng chị D. Nay chị đề nghị Tòa giao cháu L cho chị D trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi, chị không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con cùng chị D.
Về tài sản: Chị D xác định, chị và anh Lù Văn Kh tự thỏa thuận. Chị kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.
Về vay nợ: Chị D xác định, chị và anh Kh kh«ng vay nî cơ quan, tổ chức, c¸ nh©n kho¶n nµo, kh«ng cho cơ quan, tổ chức, cá nhân vay nî vî chång. Chị kh«ng ®Ò nghÞ Tßa gi¶i quyÕt.
Về phía bị đơn anh Lù Văn Kh: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã thông báo và phổ biến điều luật về các quyền, nghĩa vụ, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) cho bị đơn anh Lù Văn Kh. Anh Kh có đơn xin kéo dài thời gian để anh tìm biện pháp hàn gắn tình cảm với chị D. Tuy nhiên, anh Kh tự tước đi các quyền và nghĩa vụ, không tham gia tố tụng, không ghi ý kiến trình bày quan điểm về mối quan hệ hôn nhân, nuôi con, tài sản đối với yêu cầu khởi kiện của chị D để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Kh. Anh Kh đã được biết chị D đã khởi kiện về ly hôn và tự mình thực hiện nghĩa vụ nuôi con chung khi ly hôn với anh Kh.
Tại phiên Tòa: Nguyên đơn chị Hoàng Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn anh Lù Văn Kh vắng mặt không có lý do.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Văn Bàn có ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên hòa, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; bị đơn chưa chấp hành việc có mặt tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 228, 229,238và Khoản 4 Điều 147Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Xử, chị Hoàng Thị D ® îc ly h«n với anh Lù Văn Kh.
+ Về con: Giao Lù Thị Thúy L, sinh ngày 15/11/2009 cho chị Hoàng Thị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lù Văn Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Hoàng Thị D.
+ Về án phí và quyền kháng cáo tuyên theo quy định của quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về Tố tụng: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Hoàng Thị D yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Xét thấy, bị đơn anh Lù Văn Kh cư trú tại thôn 2 MH, xã ML, huyện Văn Bàn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lù Văn Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người làm chứng có giấy xác nhận do các đương sự cung cấp, vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị D xác định, ngày 18/3/2005 chị và anh Lù Văn Kh tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Minh Lương. Vî chång hạnh phúc được khoảng 10 năm, đến năm 2015 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, đã cho anh Kh nhiều cơ hội nhưng anh Kh vẫn giữ nguyên phong cách sống, làm cho tình cảm vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng từ tháng 6/2023, anh Kh đã bỏ nhà ở thôn 2 MH, xã ML sống ly thân, bỏ mặc không quan tâm, kinh tế của người nào người đó tự quản lý, sử dụng tính đến nay khoảng 03 tháng, thiếu đi sự chăm lo, yêu thương, quý trọng của người chồng. Chị D yêu cầu đề nghị được ly hôn với anh Kh mà không được chấp nhận yêu cầu thì chị tiếp tục sống ly thân với anh Kh như hiện nay. Xét thấy, chị D thực sự không còn tình cảm vợ chồng với anh Kh, anh Kh biết không nứu kéo được tình cảm với chị D nên từ khi nhận được thông báo thụ lý vụ án và một số văn bản tố tụng khác của Tòa án, anh Kh chỉ có đơn xin kéo dài thời gian để anh tìm cách hàn gắn tình cảm với chị D, sau đó không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, có thái độ bỏ mặc hôn nhân, không có thiện trí trong việc hướng đến mục đích đoàn tụ vợ chồng, không giao nộp tài liệu, chứng cứ về tình trạng hôn nhân, điều kiện nuôi con để chứng minh cho yêu cầu đoàn tụ vợ chồng của mình là có căn cứ. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh Kh mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 §iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị D đề nghị được ly hôn với anh Lù Văn Kh.
Về nuôi con chung khi ly hôn: Mặc dù chị D và anh Kh không thỏa thuận về việc giao con khi ly hôn. Tuy nhiên, nguyện vọng của cháu L và đề nghị của chị D giao cháu L cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Xét thấy, thu nhập hàng tháng của chị D khoảng 6.000.000đ đến 7.000.000đ có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con. Hiện cháu L đã và đang do chị D chăm sóc, nuôi dưỡng trong suốt thời gian ly thân anh Kh không chu cấp gì cho cháu L. Chị D không yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi cháu L cùng chị D cho đến khi cháu Kim, cháu L trưởng thành đủ 18 tuổi. Do vậy để đảm bảo việc học tập và phát triển về thể chất lẫn tinh thần và tránh sự xáo trộn trong cuộc sống cho cháu Kim, cháu L, cần chấp nhận đề nghị của chị D giao cháu Kim, cháu L cho chị D tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp với qui định tại Điều 81,82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, phù hợp với việc tự nguyện giao con của đương sự khi ly thân.
Về sản chung, vay nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị D phải chịu toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định. Anh Lù Văn Kh không phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 §iÒu 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh. Khoản 4 §iÒu 147; Điều 227; Điều 228 Điều; 229 và Điều 238 Bé luËt tè tông d©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xö: Chị Hoàng Thị D ® îc ly h«n với anh Lù Văn Kh.
2.Về nuôi con khi ly hôn: Giao cháu Lù Thị Thúy L, sinh ngày 15/11/2009 cho chị Hoàng Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu L trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về thực hiện nghÜa vô cÊp dưỡng nuôi con: Anh Lù Văn Kh không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Hoàng Thị D.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm non con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
2. Về án phí: Chị Hoàng Thị D ph¶i chÞu 300.000đ ( ba tr¨m ngh×n ®ång ) tiền ¸n phÝ Hôn nhận và gia đình s¬ thÈm. Nhưng được trõ vµo sè tiÒn t¹m øng ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm ®· nép lµ 300.000® t¹i biªn lai thu tiÒn sè 0004446 ngày 10/4/2023 cña Chi côc thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn V¨n Bµn, tØnh Lµo Cai. Anh Lù Văn Kh không ph¶i chÞu tiÒn ¸n phÝ cÊp d©n sù s¬ thÈm.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận - TAND Tỉnh(01); - VKSND tỉnh(01); - VKSND huyện(01) - UBND xã Minh Lương(01); - Chi cục THADS(01); - Các đương sự(02); - Lưu HS, Văn phòng. thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, cùng ngày. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ nuôi con giữa chị Phấy (chị L) và anh Khthể hiện tại các bút lục số 13,14, 15, 34, 35 xác định:“ tôi thấy anh Khthường xuyên uống rượu về điều qua tiếng lại đD chị Phấy (L) vô cớ, khi anh KhđD chị Phấy (L) về đêm mà còn sớm thì chị Phấy (L) có thể chạy đến trốn ở nhà hàng xóm. Đã nhiều lần gia đình Kh bảo để chị Phấy (L) và anh KhAnh Khtụ lần qua lần nhưng không có hết quả, anh Khvẫn không sửa chữa mà tiếp tục uống rượu đD chị Phấy (L). Đến khoảng tháng 11/2022 chị Phấy (L) bỏ về nhà mẹ đẻ ở Bản Nậm Sáng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu sống bỏ mặc không quan tâm gì đến anh Khnên theo tôi tình cảm vợ chồng chị Phấy (L) và anh Khkhó có thể hàn găn Anh Khtụ vợ chồng được”. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Lựa Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN Căn cứ vào lời khai người làm chứng biết về tình trạng hôn nhân, điều kiện |