vanban.org

Bản án 29

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tấn D 0. (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ./6/202.. Xử lý vật chứng (hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ: Biên bản giao nhận vật chứng ngày ./3/2022): Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "pham tan d - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂY HỒ
T PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: ./2022/HS-ST
Ngày: 27-.-2022

nh©n danh

n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam

Toµ ¸n nh©n d©n quËn T©y Hå, Thµnh phè Hµ Néi

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

..Bà Ngô Thị Thu Trang-Giáo viên trường

THCS Chu Văn An, Hà Nội.

2.Ông Tạ Ngọc Cư

--Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Châu -Thư ký Tòa án nhân dân quận Tây Hồ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ tham gia phiên toà:

Ông Dương Xuân Quang- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng . năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/HSST ngày .0/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2022/QĐXXST-HS ngày .2/./2022 đối với bị cáo:

Phạm Tấn D, sinh năm .979 tại Hải Phòng; Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Không xác định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Sinh và bà Vũ Thị Dung (đã chết); Vợ, con: Không; Theo Danh chỉ bản số 2.9 do công an quận Tây Hồ lập ngày 08/7/202.; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 03 tiền án, chưa được xóa án tích: Bản án số .5/HSST ngày 2./0./20.., Toà án nhân dân (TAND) quận Ba Đình xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/../20.6; Bản án số .65/20.7/HSST ngày .6/6/20.7, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày ./9/20.8; Bản án số .0./20.9/HSST ngày ./5/20.9, TAND quận Hoàn Kiếm xử phạt .8 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2020; Bị bắt quả tang ngày ./6/202., hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số . Công an TP Hà Nội, có mặt.

Bị hại: Cháu Quàng Thị T, sinh ngày 02/3/2005; Người đại diện hợp pháp của cháu T: Chị Quàng Thị L, sinh năm .989 (là mẹ đẻ cháu T); Cùng HKTT: Bản N S, xã C S, huyện . S, tỉnh S L, xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lưu Chí T, sinh năm .956; Trú tại: Số ., ngách . ngõ . đường Nguyễn Văn Cừ, phường Gia Thụy, quận Long Biên, Hà Nội, xin vắng mặt.

Néi dung vô ¸N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày ./6/202., Phạm Tấn D điều khiển xe máy, biển kiểm soát .Y8-.. đi từ Cầu Giấy hướng lên Cầu Nhật Tân, khi đến đoạn trước số nhà 500 đường Võ Chí Công, phường Xuân L, quận Tây Hồ, Hà Nội, D nhìn thấy chị Nguyễn . L (sinh năm 2000, trú tại: Số ., Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội) điều khiển xe máy BKS .B-37..68 chở cháu Quàng Thị T đi cùng chiều với D, cháu T cầm 0. chiếc điện thoại di động Iphone XS Max màu vàng ở tay phải đặt trên đùi, D nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên. D điều khiển xe, áp sát xe chị L và dùng tay trái của mình giật chiếc điện thoại của cháu T, sau đó cất vào cạp quần rồi điều khiển xe bỏ chạy về hướng đường Phạm Văn Đồng. Cháu T bị mất điện thoại đã cùng chị L tri hô cướp và cùng quần chúng nhân dân đuổi theo D. Khi đến ngã tư Xuân Đỉnh-Phạm Văn Đồng thấy chị L, cháu T đuổi theo, D đã vứt lại chiếc điện thoại về phía cháu T, do không làm chủ được tay lái nên D đã ngã xuống đường, lúc này người dân đã bắt giữ và giao nộp D cùng tang vật cho cơ quan công an để giải quyết.

Cơ quan điều tra (CQĐT) đã thu giữ tang vật là 0. chiếc điện thoại di động Iphone XSMax màu vàng do D đã cướp giật của cháu T.

Thu giữ của D: 0. chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio BKS .Y8-..; 0. điện thoại Masstel màu đen, 0. điện thoại Redmi.

Ngày 30/6/202. cháu Quàng Thị T có đơn trình báo về việc bị cướp giật chiếc điện thoại di động Iphone XSMax màu vàng như trên. Cháu T khai chiếc điện thoại trên là của cháu mua từ tháng 2/202. với giá ...000.000đồng để sử dụng.

Tại Kết luận định giá số .0/KL-HĐĐG ngày ../7/202. của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm kết luận: 0. chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax trên trị giá 6.500.000đ(sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Qua điều tra xác định chiếc điện thoại trên là của cháu T. Ngày 25/.0/202., CQĐT đã xử lý vật chứng, trao trả cho cháu Quàng Thị T chiếc điện trên, cháu T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu khác về bồi thường về dân sự.

Đối với 0. điện thoại Masstel màu đen, 0. điện thoại Redmi thu giữ của D, D khai là tài sản cá nhân do lo động mà có. Chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio BKS .Y8-.. có SK: 57.00000.27.7, SM:0..055 do D điều khiển, D khai mượn của ông Lưu Chí T.

Cáo trạng số: 2./CT-VKS ngày 2./02/2022 VKSND quận Tây Hồ đã truy tố Phạm Tấn D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều .7. BLHS.

Đại diện VKSND quận Tây Hồ luận tội: Sau khi phân tích nội dung vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố, kết luận Phạm Tấn D, phạm tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều .7., điểm s khoản . Điều 5., Điều 38, .7 BLHS; Điều .06 BLTTHS, Nghị quyết 326 về án lệ phí Toàn án. Xử phạt bị cáo từ 0. (bốn) đến 05 (năm) năm tù. Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xét. Trả lại cho bị cáo 0. điện thoại Masstel màu đen, 0. điện thoại Redmi; Tịch thu s quỹ nhà nước: 0. chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio BKS .Y8-... Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo biết việc bị cáo cướp giật tài sản của cháu T là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NhËn ®Þnh cña Tßa ¸n:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[.] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQĐT công an quận Tây Hồ, Điều tra viên, VKSND quận Tây Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại CQĐT, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 23 giờ 30 phút ngày ./6/202., Phạm Tấn D điều khiển xe máy, biển kiểm soát .Y8-.. đi từ Cầu Giấy hướng lên Cầu Nhật Tân, khi đến đoạn trước số nhà 500 đường Võ Chí Công, phường Xuân L, quận Tây Hồ, Hà Nội, D nhìn thấy chị Nguyễn . L điều khiển xe máy BKS .B-37..68 chở cháu Quàng Thị T đi cùng chiều với D, cháu T cầm 0. chiếc điện thoại di động Iphone XSMax màu vàng ở tay phải đặt trên đùi, D đã có hành vi cướp giật chiếc điện thoại trên của cháu T rồi nhanh chóng tẩu thoát sau đó đã bị bắt giữ. Chiếc điện thoại Iphone XSMax trên có giá trị 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng).

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tây Hồ đã truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều .7. Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]Về tính chất của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: HĐXX xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trong khu vực, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu: Có 03 tiền án chưa được xóa án tích: Bản án số .5/HSST ngày 2./0./20.., TAND quận Ba Đình xử phạt 38 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/../20.6; Bản án số .65/20.7/HSST ngày .6/6/20.7, TAND quận Hai Bà Trưng xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày ./9/20.8; Bản án số .0./20.9/HSST ngày ./5/20.9, TAND quận Hoàn Kiếm xử phạt .8 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2020, lần phạm tội của bị cáo là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt. Như vậy bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục, cảm hóa nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho mình mà vẫn phạm tội với lỗi cố ý, mục đích thu lợi bất chính cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật. Căn cứ tính chất hành vi, HĐXX xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo t khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi được trả lại cho bị hại, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản . Điều 5. BLHS.

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ s là phạt tiền.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên không xét.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio BKS .Y8-.. có SK: 7.00000.27.7, SM: 0..055 đã qua sử dụng do D điều khiển. Qua xác minh xác định xe đứng tên chị Nguyễn Việt Hà (sinh năm .975; Trú tại: P606 CC .6/230 Lạc Trung, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Chị Hà khai chị mua chiếc xe trên để sử dụng. Năm 20.7 do không có nhu cầu sử dụng, chị đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết. D khai D mượn chiếc xe trên của ông T. CQĐT đã lấy lời khai của ông Lưu Chí T, ông T khai: Năm 20.7 ông mua chiếc xe trên của một người phụ nữ tên Hà với giá 3.000.0000đồng để sử dụng, chị Hà đã bàn giao xe và giấy tờ xe cho ông. Tra cứu xe máy không nằm trong dữ liệu xe vật chứng. Kết luận giám định SK, SM là nguyên thuỷ. CQĐT công an quận Tây Hồ đã tiến hành đăng 03 số báo tìm chủ sở hữu, nhưng không có ai nhận chiếc xe. Xét thấy trước khi bị cáo sử dụng chiếc xe trên thực hiện hành vi phạm tội, xe vẫn do ông T quản lý, bị cáo và ông T đều khai xe do ông T cho bị cáo mượn, ông T không biết việc bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội nên để bảo đảm quyền lợi của ông T cần trả lại cho ông T chiếc xe trên. Tuy nhiên ông T có lời khai ông không có yêu cầu gì đối với chiếc xe, ông từ chối nhận lại chiếc xe trên do vậy tịch thu s quỹ nhà nước 0. chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio BKS .Y8-...

Đối với 0. điện thoại Masstel màu đen, 0. điện thoại Redmi màu ghi thu giữ của bị cáo, bị cáo khai là tài sản cá nhân do lo động mà có, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Tấn D phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng điểm d, điểm i khoản 2 Điều .7.; điểm s khoản . Điều 5., Điều 38, Điều .7 Bộ luật hình sự năm 20.5 (sửa đổi bổ s năm 20.7); Các Điều .06, 3., 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 20.5; Nghị quyết số 326/20.6/UBTVQH.. ngày 30/.2/20.6 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tấn D 0. (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ./6/202..

Xử lý vật chứng (hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tây Hồ: Biên bản giao nhận vật chứng ngày ./3/2022):

Tịch thu s quỹ nhà nước: 0. chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio màu ghi BKS .Y8-.., SK: 7.00000.27.7, SM: 0..055, đã qua sử dụng, toàn bộ phần nhựa đã bị hỏng, mất phần mặt nạ phía trước.

Trả lại cho bị cáo: 0. chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, đã qua sử dụng; 0. chiếc điện thoại di động Redmi màu ghi, đã qua sử dụng.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn .5 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn .5 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn .5 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Thµnh viªn héi ®ång xÐt xö

ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ

Cỡ chữ