vanban.org

Bản án 29/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đặng XC đối với bị đơn chị Hy L về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

Xử: Cho anh Đặng XC được ly hôn với chị Hy L. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Tạm thời anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cúp- Lạc"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đặng XC đối với bị đơn chị Hy L về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/HNGĐ- ST
Ngày: 31/3/2023
V/v: “Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH,

TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền

Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương

Ông Hoài Đức Huệ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Đặng Vân Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 592/2022/TLST - HNGĐ ngày 23/11/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Đặng XC, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn a, xã ĐR, huyện ĐD tỉnh Lâm Đồng

Địa chỉ liên hệ: Khu phố Mỹ Khoan, thị trấn Hiệp Phước, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai

Bị đơn: Chị Hy L, sinh năm 1995

Địa chỉ liên hệ: Tổ A, ấp BS, xã PT, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

(Anh C có đơn xin xét xử vắng mặt, chị L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2022, bản tự khai ngày 14/12/2022, các lời khai tiếp theo có tại hồ sơ nguyên đơn anh Đặng XC trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L chung sống tự nguyện và đăng ký kết hôn ta ̣i UBND xa Đạ Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng và được cấp giấỹ chứng nhận kết hôn số 08 ngày 02/3/2016.

Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, vợ chồng thườ ng xuyên cai vã

̃ không có tiếng nói chung và không tin tưởng nhau về vấn đề tiền bạc. Do mâu thẫn trầm trọng nên anh và chị L đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nhận thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống hôn nhân với chị L được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị L.

- Về con chung: Anh khai có 03 con chung tên là Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020. Sau khi ly hôn anh C yêu cầu giao 03 con chung cho chị L nuôi dưỡng và anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng).

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc và ở xa nên anh C xin được vắng mặt tại buổi xét xử.

* Bị đơn chị Hy L được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị L không đến Tòa án cung cấp chứng cứ và tham gia tố tụng giải quyết vụ án nên không có lời trình bày của chị L.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về trình tự, thủ tục Tòa án thụ lý vụ án, xác định tư cách đương sự và quan hệ tranh chấp, thời hạn đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh C và chị L theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C cho anh C được ly hôn với chị L. Giao con chung cháu Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020 cho chị L nuôi dưỡng; Anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng). Về tài sản chung và nợ chung: Anh C khai không có nên không xét.

Về án phí: Anh C phải chịu án phí dân sự trong vụ án Hôn nhân và gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Những kiến nghị khắc phục vi phạm là không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh C vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn chị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập đương sự nhưng chị vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh C và chị L theo quy định.

- Về thẩm quyền: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.

- Về quan hệ pháp luật: Tại đơn khởi kiện ngày 17/10/2022 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh Đặng XC yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Hy L và yêu cầu giao 03 con chung là cháu Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020 cho chị L nuôi dưỡng; Anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng). Xét thấy anh C và chị L chung sống với nhau từ năm 2016 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xa Đạ Ròn, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng và được cấp giấỹ chứng nhận kết hôn số 08 ngày 02/3/2016, vì vậy căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

[ 2 ]. Về Nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đặng XC khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Hy L.

Xét thấy, qua kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Phước Thiền thì địa phương không xác định được nguyên nhân tranh chấp ly hôn giữa anh C và chị L. Chị Hy L hiện tại đang sinh sống tại địa chỉ: Tổ A, ấp BS,xã PT, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo cho chị L biết để đến Tòa tham gia tố tụng, cung cấp chứng cứ và hòa giải để vợ chồng chị đoàn tụ nhưng chị L vẫn không đến Tòa mà không có lý do nên Tòa án không thể hòa giải cho vợ chồng chị L và anh C đoàn tụ. Qua ý kiến của anh C thể hiện anh C và chị L chung sống không hạnh phúc, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, anh chị đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay là đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C, xử cho anh C được ly hôn với chị L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh C và chị L có 03 con chung là cháu Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020. Căn cứ vào tài liệu Tòa án thu thập được trong hồ sơ và lời khai của anh C xác định anh C và chị L có 03 con chung là cháu Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020. Hiện 03 con chung là cháu Long, cháu Linh và cháu Lam đang sống cùng chị L. Tại đơn khởi kiện và các lời trình bày tiếp theo của mình, anh C tiếp tục giữ nguyên yêu cầu giao 03 con chung là cháu Long, cháu Linh và cháu Lam cho chị L nuôi dưỡng, Anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng). Xét thấy, yêu cầu của anh C về việc giao 03 con chung cho chị L nuôi dưỡng và anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng) là có căn cứ chấp nhận vì hiện tại 03 con chung đang ở với chị L nên cần giao 03 con chung là cháu Long, cháu Linh và cháu Lam cho chị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm thời anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng).

Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh C được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Anh C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con và 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008688 ngày 17/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Anh C phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí.

* Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 147, 220, 227, 228, 264, 266, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đặng XC đối với bị đơn chị Hy L về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.

Xử: Cho anh Đặng XC được ly hôn với chị Hy L.

Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Đinh Đặng Hoàng Long, sinh ngày 16/9/2016, Đinh Đặng Hoàng Linh, sinh ngày 09/8/2018 và Hy Diễm Lam, sinh ngày 20/9/2020 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Tạm thời anh C cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng (03 cháu tổng cộng là 4.500.000 đồng/tháng).

Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Anh C được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì bên có nghĩa vụ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về tài sản chung: Anh C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Anh C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Anh C phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con và 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008688 ngày 17/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Anh C phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí.

3. Anh C và chị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ