vanban.org

Bản án 29/BA — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thanh T được ly hôn với ông Lê Văn D.

Về con chung: Giao con chung Lê Ngọc Yến L, sinh ngày 21/5/2018 cho bà Nguyễn Thanh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Lê Văn D. Ông D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thanh T xin ly hôn với ông Lê Văn D"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thanh T được ly hôn với ông Lê Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 6 - 2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Sương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Tuấn Mỹ

Ông Lê Quốc Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 09/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2022/QĐST-HNGĐ ngày 26/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh T - sinh năm 1999

Địa chỉ: Thôn Khánh X, xã Diên L, huyện D, Khánh Hòa.

Bà T có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn D - sinh năm 1986

Địa chỉ: Thôn Khánh X, xã Diên L, huyện D, Khánh Hòa.

Ông D vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T trình bày: Bà và ông Lê Văn D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Diên L, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Trong thời gian chung sống với nhau vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau. Ông D thường ăn nhậu, mỗi lần say xỉn lại xúc phạm và đe dọa đánh đập bà, nhiều lần gia đình chồng can ngăn và khuyên nhủ; bà cũng cho ông D cơ hội để thay đổi bản thân nhưng ông D vẫn không thay đổi. Bà và ông D đã không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2021 cho đến nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông D nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà và ông D có một con chung là Lê Ngọc Yến L - sinh ngày 21/5/2018. Hiện nay cháu L đang sống cùng bà. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Bà đang là công nhân làm đá chẻ, thu nhập mỗi tháng khoảng 7.000.000đ (bảy triệu đồng) nên đủ khả năng nuôi con. Ông D cũng có đóng tiền học và mua sữa cho con nên bà không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà T tự thỏa thuận với ông D, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung với ông D.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn D không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.

- Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định; bị đơn không có lời khai, không đến Tòa làm việc.

Về nội dung: Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của đương sự tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T đối với bị đơn ông Lê Văn D. Giao con chung Lê Ngọc Yến L - sinh ngày 21/5/2018 cho bà Nguyễn Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Lê Văn D. Tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu nên đề nghị hội đồng xét xử không xét. Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Lê Văn D tham gia phiên tòa nhưng ông D vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh T và ông Lê Văn D tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Lâm và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 06/2018 ngày 12/3/2018; đây là hôn nhân hợp pháp.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bị đơn ông Lê Văn D vì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Bà T xác định không còn tình cảm với ông D, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân, không thể hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Thực tế vợ chồng bà T và ông D không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2021 cho đến nay; mỗi người tự lo cho cuộc sống riêng của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D đến Tòa làm việc liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như các phiên hòa giải để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông D không đến Tòa làm việc, không có lời khai và tại phiên tòa ông D cũng vắng mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông D có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của vợ chồng, không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét tình cảm giữa bà T và ông D không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Tuyền có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thanh và ông Lê Văn D có một con chung là Lê Ngọc Yến L, sinh ngày 21/5/2018. Hội đồng xét xử xét thấy cháu L là con gái, còn nhỏ nên để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của cháu L, cần giao cháu L cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông D.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thanh T xác định không có nợ chung với ông Lê Văn D nên không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thanh T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thanh T được ly hôn với ông Lê Văn D.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Ngọc Yến L, sinh ngày 21/5/2018 cho bà Nguyễn Thanh T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Lê Văn D. Ông D có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, bà T và ông D đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thanh T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2021/000...53 ngày 10 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh nên bà Tuyền đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ