vanban.org

Bản án 29/2026/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1, 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đậu Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L Ly hôn Đậu Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1, 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2026/ST–HNGĐ
Ngày 22 tháng 01 năm 2026
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Doãn Xuân và Ông La Văn Liệu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hoa – Kiểm sát viên.

Ngày 22/01/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ L số: 128/2025/TLST–HNGĐ ngày 03/11/2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 04/12/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L – Sinh ngày: 10/10/1992

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx

Trú tại: Xóm 6 N, xã Đ, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Đậu Văn T – Sinh ngày: 03/09/1992

Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxxx

Trú tại: Thôn 04, xã A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.

* Người làm chứng: Bà Đinh Thị Q – Sinh năm: 1972 (Mẹ đẻ anh T) - Trú tại: Thôn 04, xã A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt, tuy nhiên tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị Nguyễn Thị L và anh Đậu Văn T đăng ký kết hôn ngày 17/11/2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do chị và anh T không còn tin tưởng nhau trong chuyện tình cảm. Đến tháng 5/2025, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, mặc dù vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhiều lần để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2025 cho đến nay. Nay tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng.

Về con chung: Trong quá trình chung sống chị L và anh T có với nhau 01 con chung là Đậu Thế A, sinh ngày 10/4/2024. Nay ly hôn chị L có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Tại phiên tòa, bị đơn anh Đậu Văn T vắng mặt, tuy nhiên thông qua người làm chứng là bà Đinh Thị Q, anh T có ý kiến như sau:

Anh Đậu Văn T và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị L và anh Đậu Văn T về chung sống với bố mẹ anh T, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc một thời gian rất ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tin tưởng nhau trong chuyện tình cảm. Nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2025 cho đến hiện nay. Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị Nguyễn Thị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh Đậu Văn T cũng đồng ý ly hôn với chị L. Về con chung: Có 01 người con chung là Đậu Thế A, sinh ngày 10/4/2024. Nay ly hôn anh T đồng ý để chị L nuôi con. Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay anh T đi làm ăn xa nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Tại phiên tòa, người làm chứng bà Đinh Thị Q vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, bà Q đã khai:

Bà Đinh Thị Q là mẹ anh Đậu Văn T, chị Nguyễn Thị L là con dâu của bà. Anh Đậu Văn T và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau vào năm 2023. Sau khi kết hôn thì sinh được 01 con chung, sau đó có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và tính cách không hợp nhau. Nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2025 đến nay. Anh T đã nhận được các văn bản tố tụng và tài liệu chứng cứ do Tòa án giao và có ý kiến là đồng ý ly hôn với chị L và đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh T. Về con chung: Có 01 người con chung là Đậu Thế A, sinh ngày 10/4/2024. Nay ly hôn anh T đồng ý để chị Nguyễn Thị L nuôi con. Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Nghệ An phát biểu ý kiến về vụ án và về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 và có đề nghị giải quyết vắng mặt. Nên Toà án xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ.

Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Đậu Văn T; Về con chung: Giao con chung là Đậu Thế A, sinh ngày 10/4/2024 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Đậu Văn T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn”, bị đơn cư trú tại xã A, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An thụ L giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đề nghị giải quyết vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Đậu Văn T tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2023, kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đ, tỉnh Nghệ An) trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2025 đến nay. Nay tình cảm không còn nên chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, thông qua người làm chứng là mẹ anh T – bà Đinh Thị Q, anh T có ý kiến là đồng ý ly hôn với chị L và anh T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án có căn cứ để xét xử vụ án theo thủ tục chung do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, cùng nhau chăm lo cuộc sống. Tuy nhiên, giữa chị L và anh T đã sống ly thân, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Do đó, hôn nhân giữa chị L và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình và cũng phù hợp với ý kiến của anh T là chấp nhận yêu cầu ly hôn với chị L.

Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Đậu Văn T có 01 con chung là Đậu Thế A, sinh ngày 10/4/2024. Nay ly hôn chị L có nguyện vọng nuôi con, anh T cũng đồng ý để chị L nuôi con. Vì vậy, cần giao con Đậu Thế A cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với ý kiến của các đương sự. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị L và anh Đậu Văn T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1, 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đậu Văn T.

* Về nuôi con chung: Giao con Đậu Thế A, sinh ngày 10/4/2024 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

* Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Đậu Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, khi có L do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp theo biên lai số 0002219 ngày 03/11/2025 tại phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Nghệ An).

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ