- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Hà phạm tội "Vận chuyển hàng cấm"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2026/HS-ST Ngày 15 - 4 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THÁI NGUYÊN
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức Hà (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 11/10/1987 tại Thái Nguyên; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm Đồng Tiến, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Công Nhân và bà Tạ Điệp Cúc; có vợ Nguyễn Thị Lan và có 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào hiện tại ngoại - Có mặt
Người chứng kiến: anh Nguyễn Thanh Tú, sinh năm: 1985; nơi thường trú: Xóm Thâm Găng, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên - Vắng mặt không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng pháo nổ vào dịp Tết Nguyên Đán 2026, ngày 09/02/2026 Hà đi bộ đến khu vực xóm Thâm Găng, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên thì gặp một người nam giới không biết tên và địa chỉ đặt mua 05 giàn pháo với giá 360.000đ/giàn, được người nam giới hẹn chiều ngày 11/02/2026 nhận hàng. Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 11/02/2026, Hà một mình đi bộ đến địa điểm đã hẹn tại xóm Thâm Găng, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên gặp và đưa cho người nam giới trên số tiền 1.800.000đ được nhận lại 01 bao tải dứa màu trắng, trên bao bì in chữ “PHÂN URÊ ĐẠM PHÚ MỸ” bên trong có 05 giàn pháo hoa nổ. Sau khi giao dịch xong, Hà vận chuyển số pháo trên mang về nhà thì bị tổ công tác Công an xã Vô Tranh thấy nghi vấn, yêu cầu kiểm tra hồi 13 giờ 20 cùng ngày, quá trình kiểm tra thu giữ: 03 khối hộp có đặc điểm tương đồng, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn màu sắc, in hoa văn và chữ viết nước ngoài và 02 khối hộp có đặc điểm tương đồng, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn màu sắc, in hoa văn và chữ viết nước ngoài (niêm phong trong thùng carton ký hiệu H1); 01 bao tải dứa màu trắng, trên bao bì in chữ “PHÂN URÊ ĐẠM PHÚ MỸ”, đã qua sử dụng (niêm phong trong hộp carton ký hiệu H2).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong cân xác định tổng khối lượng vật chứng niêm phong trong thùng carton ký hiệu H1 xác định được: 03 hình khối hộp có đặc điểm tương đồng, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn màu sắc, in hoa văn và chữ viết nước ngoài có khối lượng 3,8kg; 02 khối hộp có đặc điểm tương đồng, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn màu sắc, in hoa văn và chữ viết nước ngoài có khối lượng 3,2kg. Niêm phong toàn bộ vật chứng trên vào thùng niêm phong ký hiệu H3 gửi giám định.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức Hà tại xóm Đồng Tiến, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên, kết quả không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan.
Tại Bản Kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 20/02/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: 03 (ba) khối hộp có cùng đặc điểm kích thước (14 x 14 x 15) cm, bên ngoài vỏ hộp bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ mỗi vật dài 15cm, đường kính là 2,2cm và 02 (hai) khối hộp có cùng đặc điểm kích thước (13 x 14,5 x 16,5) cm, bên ngoài vỏ hộp bọc giấy nhiều màu sắc, in hoa văn và chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hộp có 42 lỗ tròn trong đó có 06 lỗ tròn có đường kính 01 cm và 36 lỗ tròn có đường kính 02 cm ký hiệu H3 là pháo nổ (pháo hoa nổ). 05 (năm) khối hộp ký hiệu H3 có tổng khối lượng là 07 kg (Bảy kilogam).
Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSKV4 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên truy tố Nguyễn Đức Hà về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do có nhu cầu mua pháo để sử dụng vào dịp Tết Nguyên Đán nên đã đặt mua pháo để sử dụng, trong quá trình vận chuyển về nhà thì bị công an bắt giữ như nội dung truy tố bị cáo là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4-Thái Nguyên luận tội bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hà từ 09-12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp niêm phong ký hiệu H2 bên trong có 01 bao tải dứa màu trắng, bên ngoài bao bì in chữ PHÂN URÊ ĐẠM PHÚ MỸ đã qua sử dụng. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.0000 đồng.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:
. Về tính hợp tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai người chứng kiến, Kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thái Nguyên về số pháo thu được là pháo nổ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 13 giờ 20 phút ngày 11/02/2026, sau khi mua được pháo nổ tại xóm Thâm Găng, xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên đang trên đường vận chuyển về nhà thì bị Công an xã Vô Tranh kiểm tra bắt, thu giữ 05 khối hộp trong bao tải dứa trắng.
Tại Bản Kết luận giám định số 426/KL-KTHS ngày 20/02/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Các khối hộp niêm phong ký hiệu H3 là pháo nổ (pháo hoa nổ); 05 (năm) khối hộp ký hiệu H3 có tổng khối lượng là 07 kg (Bảy kilogam).
Pháo nổ là mặt hàng cấm kinh doanh, tàng trữ và vận chuyển theo quy định của nhà nước, tuy nhiên bị cáo Hà đã thực hiện việc giao dịch mua bán, sau đó trực tiếp cầm bao tải chứa 07kg pháo nổ từ xóm Thâm Găng, xã Vô Tranh về nhà, đây là hành vi dịch chuyển hàng cấm từ nơi này sang nơi khác hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015
Xét tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là ít nghiêm trọng tuy nhiên xâm phạm tới hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước đối với những loại hàng hóa mà pháp luật cấm kinh doanh, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển hàng cấm là hành vi nguy hiểm cho xã hội tuy nhiên bị cáo vận chuyển nhằm mục đích sử dụng cá nhân vào dịp Tết, không phải để buôn bán kiếm lời nên Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo. Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự không cần cách ly xã hội, cho bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo, thể hiện tính khoan hồng trong pháp luật nhà nước ta.
. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng... " do đó bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xem xét bị cáo xuất phát là người lao động tự do, vận chuyển hàng cấm với mục đích để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Đối với số pháo nổ thu giữ đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không xem xét. Đối với 01 bao tải dứa màu trắng bị cáo sử dụng vận chuyển pháo đã qua sử dụng, không có giá trị do đó cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với nguồn gốc số pháo bị thu giữ: bị cáo Nguyễn Đức Hà khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý, Tòa án kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Hà phạm tội "Vận chuyển hàng cấm"
[2] Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hà 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức Hà cho Ủy ban nhân dân xã Vô Tranh, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
[3] Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong ký hiệu H2 bên trong có 01 bao tải dứa màu trắng, bên ngoài bao bì in chữ PHÂN URÊ ĐẠM PHÚ MỸ đã qua sử dụng.
(Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại kho của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4- Thái Nguyên theo biên bản giao nhận số 36/2026 lập ngày 08/04/2026).
[5] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc Bị cáo Nguyễn Đức Hà phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước
[6] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Đức Hà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái nguyên; - Công an tỉnh Thái Nguyên; - VKSND khu vực 4 – Thái Nguyên; - THADS tỉnh Thái Nguyên (Phòng KV4); - Bị cáo; - Lưu HSVA. BP. . | Chu Thị Bích Hiền |