- Tranh chấp gì? án hình sự — "HS - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý (điều 195 Bộ luật hình sự năm 1…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: K 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊNTHÀNH TỈNH NGHỆ AN –––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HSST Ngày 26/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Hồ Sỹ Cường và bà Chu Thị Xuyến.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa : Bà Lại Thị Hiền - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm, trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2025/HSST, ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
K, sinh ngày 02/03/1987 tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm 9, xã Vân Tụ, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Bích và bà Nguyễn Thị Quý; có vợ: Cao Thị Minh và 06 con; tiền án: Ngày 27/09/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm 06 sáu tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy tại bản án số 108/2021/HS-ST ngày 27/09/2021. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/05/2023; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình Tuấn, sinh năm 1993. ( vắng mặt)
Nơi cư trú: xóm Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ
An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định mua ma túy để sử dụng nên vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, K đón xe buýt đi từ nhà ở của mình tại xóm 9, xã Vân Tụ, huyện Yên Thành xuống huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Khi đi đến khu vực gần Chùa Cổ Am thuộc xã Minh Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì Kiên xuống xe và đi bộ. Trên đường K thấy có một người đàn ông làm nghề lái xe ôm ( Kiên không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người đàn ông này) K đi đến gần và hỏi mua của đàn ông này 1.000.000 đồng tiền ma túy, thì người đàn ông này đồng ý. Sau khi thỏa thuận, K đưa cho người đàn ông này 1.000.000 đồng tiền mặt. Người đàn ông này cầm tiền và đưa cho K 01 bao ni lông màu đỏ đen nhãn hiệu NESCAFE, bên trong có 12 ( mười hai) viên nén hình tròn màu hồng là ma túy. Mua được ma túy xong, K cần gói ma túy rồi đón xe đi về nhà. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi K đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Thành phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 20/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của K tại xóm 9, xã Vân Tụ, huyện Yên Thành. Quá trình khám xét thu giữ: Tại vị trí trong góc phải phòng bếp ( hướng từ phòng khách nhìn xuống phòng bếp nhà ở của K) 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, ở giữa thân chai ghi nhãn hiệu STING, được đục lỗ và gắn tẩu tự chế bằng nhựa màu trắng.
Ngày 20/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Thành đã tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định. Sau khi loại bỏ bao bì 12 ( mười hai) viên nén hình tròn màu hồng ( nghi là ma túy) có tổng khối lượng là 1,155g ( một phẩy một trăm năm mươi lăm gam). Các mẫu vật được ký hiệu là M1 và M2.
Tại bản Kết luận giám định số 34/KL-KTHS ( Đ 2 – MT) ngày 24 tháng 12 năm 2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận “ Mẫu viên nén hình tròn màu hồng ( ký hiệu M1) thu giữ của K gửi đến giám định là ma túy Methamphetamine; 12 (mười hai) viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của K có tổng khối lượng là 1,155g (một phẩy một trăm năm mươi lăm gam); Chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, ở giữa thân chai ghi nhãn hiệu STING, được đục lỗ và gắn tẩu tự chế bằng nhựa màu trắng ( ký hiệu M2) thu giữ của K gửi đến giám định có bám dính ma túy loại Methamphetamine.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng trong vụ án:
Ngày 20/12/2024, quá trình bắt quả tang và khám xét khẩn cấp chỗ ở đã thu giữ của K 12 ( mười hai) viên ma túy loại Methamphetamine hình tròn màu hồng có tổng khối lượng là 1,155g (một phẩy một trăm năm mươi lăm gam). Hội đồng đã lấy 03 (ba) viên ma túy hình tròn màu hồng có khối lượng 0,28g ( không phẩy hai mươi tám gam) gửi di giám định ( ký hiệu M1) (không hoàn lại). Số vật chứng còn lại là 09 (chín) viên ma túy hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,875g ( không phẩy tám trăm bảy mươi lăm gam) cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, ở giữa thân chai ghi nhãn hiệu STING, được đục lỗ và gắn tẩu tự chế bằng nhựa màu trắng.
Cáo trạng số 30/CT-VKS-YT ngày 18/02/2025 của VKSND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An truy tố K về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- ¸p dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo K từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy: 09 viên Methamphetamine có khối lượng 0,875 gam được niêm phong trong phong bì thư; vỏ vật chứng; vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, ở giữa thân chai ghi nhãn hiệu STING, được đục lỗ và gắn tẩu tự chế bằng nhựa màu trắng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí bản luận tội của kiểm sát viên và không tranh luận gì.
Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, tại nhà của K ở xóm 9, xã Vân Tụ, huyện Yên Thành. Công an huyện Yên Thành phát hiện bắt quả tang K cất dấu 12 ( mười hai) viên ma túy Methamphetamine có khối lượng 1,155g ( một phẩy một trăm năm mươi lăm gam) với mục đích để sử dụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, bản kết luận giám định, có đủ căn cứ xác định K đã cất giấu bất hợp pháp 12 viên Methamphetamine có khối lượng 1,155 gam trong nhà của mình, tại xóm 9, xã Vân Tụ, huyện Yên Thành.
Do đó Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Kiên là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Nó đã xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy, đã làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm ma túy trên địa bàn, khi mà tệ nạn ma túy đang là vấn đề nhức nhối cho xã hội, chính vì vậy phải xử lý nghiêm khắc với bị cáo, nhất thiết phải cách ly ra khỏi xã hội để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù của bản án số 108/2021/HS-ST ngày 27/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành ngày 15/05/2023, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt hình phạt tù với mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Hình phạt bổ sung:
Bị cáo nghiện ma túy, tài sản và thu nhập không có vì vậy không áp dụng
hình phạt bổ sung.
Bị cáo Kiên khai mua ma túy của một người đàn ông làm nghề lái xe ôm tại khu vực chùa Cổ Am thuộc xã Minh Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh người đàn ông lái xe ôm nhưng không có kết quả.
Vật chứng: Thu giữ của K.
-12 ( mười hai) viên ma túy loại Methamphetamine hình tròn màu hồng có tổng khối lượng là 1,155gam . Hội đồng đã lấy 03 (ba) viên có khối lượng 0,28gam gửi di giám định (không hoàn lại). Còn lại là 09 (chín) viên ma túy hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,875gam cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu.
-01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, ở giữa thân chai ghi nhãn hiệu STING, được đục lỗ và gắn tẩu tự chế bằng nhựa màu trắng.
Xét ma túy thu của bị cáo là loại nhà nước cấm lưu hành và 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đen không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ như quy định tại khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Yên Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Án Phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: K 27 ( Hai mươi bảy) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2024.
-Vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy: 09 viên Methamphetamine có khối lượng 0,875 gam được niêm phong trong phong bì thư; vỏ vật chứng; vỏ phong bì niêm phong ban đầu và 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, ở giữa thân chai ghi nhãn hiệu STING, được đục lỗ và gắn tẩu tự chế bằng nhựa màu trắng.
( Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Yên Thành quản lý ngày 18/02/2025).
-Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo K phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An; - Cơ quan điều tra cùng cấp; - Cơ quan THA hình sự; - UBND xã nơi b/c cư trú; - Chi cục THADS cùng cấp; - TAND tỉnh Nghệ An - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu kết quả. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phan Xuân Thọ |