vanban.org

Bản án 29/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”;

phạt bị cáo L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến ngày 20/01/2025; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng; Chuyển lưu theo hồ sơ 01 (một) bộ hồ sơ gốc liên quan đến tàu cá KG-90309 TS, gồm: Giấy chứn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo bị VKS truy tố về tội "Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép" - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh h…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”;
  • Căn cứ chính? Điều 348 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST
Ngày: 07-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Anh Lý

Ông Dương Thành Công

- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Khả Khiêm, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Dương Bá Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Ngô Văn L (tên gọi khác là Chín L1), sinh ngày 01/01/1968 tại T, Cà Mau; nơi cư trú: Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn K (đã chết) và bà Châu Thị H (đã chết); vợ tên Phan Cẩm H1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến ngày 20/01/2025 được tại ngoại. Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Xuân K1 của Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Luật sư có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định đánh bắt trái phép thủy sản ở vùng biển nước ngoài nên khoảng tháng 9 năm 2023, Ngô Văn L mua 01 tàu cá số hiệu KG-90309-TS đã qua sử dụng của ông Nguyễn Văn L2 (T), thường trú: Tổ 2, ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang, rồi thuê thợ sửa chữa một số bộ phận của tàu và đặt Võ Quốc N, sinh năm 1980, thường trú: khóm F, Sông Đ, Trần Văn T, Cà Mau làm giàn cào để đi đánh bắt thủy sản trái phép. Luận thay đổi số hiệu của tàu thành CM-99840-TS. Đồng thời, L thỏa thuận với Phan Văn T1, sinh năm 1988, thường trú tại Ấp T, xã K, huyện T để T1 làm thuyền trưởng và tìm thêm các ngư phủ để đi khai thác thủy sản trái phép ở vùng biển Thái Lan. T1 đồng ý và thuê Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975, thường trú tại Khóm F, thị trấn S, huyện T; Trần Văn P, sinh ngày 10/10/1975; thường trú: Ấp T, xã P, huyện T; Nguyễn Việt K2, sinh ngày 15/10/1993; thường trú: Ấp T, xã K, huyện T và Phan Văn T3 (em của T1) để cùng đi sang vùng biển Thái Lan đánh bắt thủy sản trái phép. Luận cho T1 ứng trước số tiền 130 triệu đồng, L đưa T1 tiền mặt một phần và kêu Lưu Thị Diệu là con dâu của L chuyển khoản cho T1 72 triệu để T1 cho Thanh ứng 20 triệu. Riêng T3, P, K2 thì T1 cho mỗi người ứng 15 triệu đồng.

Sau khi chuẩn bị xong tàu, dụng cụ đánh bắt, mua lương thực, thực phẩm, thuê các ngư phủ, đến khoảng 20 giờ cuối tháng 10 năm 2023, Ngô Văn L cùng T3, T1, P, T2, K2 gặp nhau tại nhà của L để chuyển lương thực, thực phẩm xuống tàu CM-99840-TS. Đến khuya cùng ngày, L thấy Trạm Biên phòng có nhiều tàu cá trình thủ tục, lợi dụng sơ hở, L kêu Thiệt điều khiển tàu CM-99840-TS cùng 04 ngư phủ trốn trạm để xuất cảnh trái phép sang vùng biển Thái Lan khai thác thủy sản cho đến ngày 15/11/2023, thì bị Cơ quan chức năng Thái Lan bắt giữ.

- Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố bị cáo L về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù;

- Luật sư trình bày: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, là lao động chính trong gia đình, đầu thú, bị bệnh lý về mắt và hoại tử chỏm xương đùi hai bên. Do đó, đề nghị giảm nhẹ thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo.

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn L thừa nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Qua đó, có đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích vụ lợi nên vào khoảng tháng 9 năm 2023, L mua tàu đã qua sử dụng về sửa chữa, đặt làm các ngư cụ và thuê Phan Văn T1 cùng 04 ngư phủ, cho họ ứng tiền, mua lương thực, thực phẩm để T1 điều khiển tàu cùng 04 ngư phủ không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định sang vùng biển Thái Lan khai thác thủy sản trái phép cho đến ngày 15/11/2023 thì bị cơ quan chức năng của Thái Lan bắt giữ. Với các tình tiết này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo L về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo điểm c khoản 2 Điều 348 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, không những xâm phạm trực tiếp sự quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh mà còn làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của Việt Nam về công tác chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU). Bị cáo thực hiện hành vi tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đầu thú; Chưa có tiền án, tiền sự; Kiến thức pháp luật hạn chế do trình độ học vấn thấp; Đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại Đồn Biên phòng S; Bị bệnh MT đục thủy tinh thể trước tuổi già, loạn thị và hoại tử chỏm xương đùi 02 bên (Type IIIA theo F); Ông Châu T4 là cậu ruột của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét đề nghị về mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là có cơ sở. Hội đồng xét xử cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để có thời gian cải tạo thành người tốt cũng như phòng ngừa chung. Ngoài ra, cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo được chấp nhận một phần.

Về biện pháp tư pháp:

Đối với chiếc tàu cá được bị cáo L mua, sửa chữa lại và giao cho Phan Văn T1 điều khiển tàu cùng 04 ngư phủ không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định sang vùng biển Thái Lan khai thác thủy sản trái phép. Chiếc tàu này đã bị cơ quan chức năng của Thái Lan tịch thu nên không xử lý trong vụ án này.

Đối với một bộ hồ sơ gốc liên quan đến tàu cá KG-90309 TS cần tịch thu chuyển lưu theo hồ sơ, gồm: Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, Giấy phép khai thác thủy sản, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật, Biên bản kiểm tra kỹ thuật hàng năm, Sổ đăng kiểm tàu cá, Sổ kiểm soát tàu cá, Hợp đồng mua bán tàu cá giữa ông Nguyễn Văn L2 và vợ là bà Châu Thị N1 với Ngô Văn L.

Do bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với Phan Văn T1 cùng các ngư phủ Phan Văn T3, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Việt K2, Trần Văn P xuất cảnh trái phép sang Thái Lan khai thác thủy sản trái phép. Các đối tượng này đã bị Nhà nước Thái Lan xử phạt tù và phạt tiền nên không xử lý trong vụ án này.

Đối với Phạm Văn D: D là bạn của bị cáo L. Khi nghe bị cáo L nhờ giúp khai nhận gian dối và nghe bị cáo L nói D khai như vậy thì D chỉ bị phạt hành chính, bị cáo L sẽ lo đóng tiền phạt. D tin tưởng nên đã thực hiện theo yêu cầu của bị cáo L. Tuy nhiên, sau khi được Cơ quan điều tra động viên, giải thích, nên D đã tự nguyện khai nhận toàn bộ việc bị cáo L nhờ D khai nhận gian dối giúp bị cáo L. D không biết và không tham gia trong việc bị cáo L mua tàu, sửa chữa và thuê thuyền trưởng, thuyền viên đưa tàu đi Thái Lan để khai thác thủy sản trái phép. D chưa được hưởng lợi ích gì từ bị cáo L. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý đối với D là phù hợp.

Đối với Võ Quốc Nghĩa là người làm giàn cào do bị cáo L thuê, nhưng N không biết L sử dụng để đi Thái Lan để khai thác thủy sản trái phép. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với Nghĩa là phù hợp.

Đối với Lưu Thị D1 (con dâu của bị cáo L) khi chuyển tiền để cho Phan Văn T1 ứng trước thì D1 chỉ làm theo yêu cầu của bị cáo L và bản thân D1 không biết T1 cùng các ngư phủ sang Thái Lan để khai thác thủy sản trái phép nên không có căn cứ để xử lý D1 là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn L phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”;

2. phạt bị cáo L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 26/11/2024 đến ngày 20/01/2025; phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng;

3. Chuyển lưu theo hồ sơ 01 (một) bộ hồ sơ gốc liên quan đến tàu cá KG-90309 TS, gồm: Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá, Giấy phép khai thác thủy sản, Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật, Biên bản kiểm tra kỹ thuật hàng năm, Sổ đăng kiểm tàu cá, Sổ kiểm soát tàu cá, Hợp đồng mua bán tàu cá giữa ông Nguyễn Văn L2 và vợ là bà Châu Thị N1 với Ngô Văn L (bút lục 940-963);

4. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ