vanban.org

Bản án 29/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 16/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đồng Minh T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Minh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST
Ngày: 16-9-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Sung

Ông Bạch Thái Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Giàng A Hà– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1

- LC.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - LC là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến đến điểm cầu thành phần là Trại tam giam Công an tỉnh LC vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST – HS ngày 14/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HS ngày 04/9/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đồng Minh T (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2003, tại tỉnh LC; Nơi cư trú: thôn Tây An, xã Mường So, huyện P, tỉnh LC (nay là thôn Tây An, xã P, tỉnh LC); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Đặng Duy T, sinh năm 1981 (đã chết) và bà Đồng Thị X, sinh năm 1982; Vợ: Không. Bị cáo chung sống như vợ chồng với Mào Thị Quỳnh, sinh năm 2001; Con: 01 con, sinh năm 2019; Gia đình có 02 anh em bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Bị cáo đã 03 lần bị kết án về các tội ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ Điều 107 của Bộ luật hình sự, bị cáo được coi là không có án tích, cụ thể:

+ Tại bản án số 38/2021/HS-ST ngày 24/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh LC áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” và buộc phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

+ Tại bản án số 60/2021/HSST ngày 30/6/ 2021 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh LC áp dụng điểm g, k khoản 2 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 56, 90, 91, 98, 101,104 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “ Vận chuyển hành cấm”, truy thu 600.000 đồng và buộc phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tổng hợp hình phạt 08 tháng tù của bản án số 38/2021/HS-ST, buộc bị cáo phải chấp hành 02 năm 08 tháng tù.

+ Tại bản án số 61/2021/HSST ngày 30/6/2021 của của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh LC áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và buộc phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tổng hợp hình phạt cả ba bản án, buộc bị cáo phải chấp hành 03 năm 04 tháng tù. Đến ngày 22/2/2024, bị cáo chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của các bản án.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/6/2025 đến ngày 05/6/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh LC cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 02/6/2025, Đồng Minh T đang ngồi chờ đón xe khách tại Bến xe khách tỉnh LC để đi xuống tỉnh Bắc Ninh làm thuê. Trong lúc ngồi đợi T gặp Hồ Văn T, sinh năm 1995, trú tại bản San Thàng, xã San Thàng, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Tân Phong, tỉnh LC), cũng là người nghiện chất ma túy nên T đã nhờ T mua ma túy hộ để sử dụng, T đồng ý. Sau khi nhận 200.000 đồng của T, T bảo T đi đến khu vực đường 30/4 đối diện Bệnh viện đa khoa tỉnh LC, thuộc tổ 22, phường Đông Phong (nay là phường Tân Phong) đứng đợi còn T đi tìm mua ma tuý. T đứng đợi một lúc thì T quay lại chỗ hẹn đưa cho T 01 gói Heroine bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu xanh. Nhận được Heroine, T cất giấu gói Heroine vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy. Hồi 08 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đang bộ trên đường 30/4, thuộc tổ 22, phường Đông Phong (nay là phường Tân Phong) thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh LC phối hợp với Công an phường Đông Phong kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam T đang tàng trữ để sử dụng.

Căn cứ lời khai của Đồng Minh T, Cơ quan điều tra đã triệu tập, lấy lời khai Hồ Văn T và tiến hành đối chất giữa T và T nhưng T không thừa nhận mua hộ ma túy cho T như lời khai của T.

Tại Kết luận giám định số 449/KL-KTHS ngày 03/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Đồng Minh T có khối lượng là 0,17 gam, là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Vật chứng đã thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng: Đã thu giữ của của Đồng Minh T 0,17 gam Heroine và 01 mảnh nilon màu xanh. Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ 0,17 gam Heroine làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại chưa xử lý, chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - LC chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 22/CT- VKSKV1, ngày 14/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC đã truy tố Đồng Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Đồng Minh T mức án từ 22 tháng đến 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2025.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.

Đối với 0,17 gam Heroine đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề nghị xem xét giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Đồng Minh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 45 phút ngày 02/6/2025, tại tổ 22, phường Đông Phong, thành phố LC, tỉnh LC (nay là phường Tân Phong, tỉnh LC), Đồng Minh T đang tàng trữ trái phép 0,17 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh LC phối hợp với Công an phường Đông Phong phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo Đồng Minh T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:[ ...]

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; [ ...]

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần tài sản hoặc toàn bộ tài sản”.

Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã 03 lần bị Tòa án xét xử về các tội: Trộm cắp tài sản, Vận chuyển hành cấm, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản về các tội ít nghiêm trọng khi chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ Điều 107 của Bộ luật hình sự, bị bị cáo được coi là không có án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,17 gam Heroine thu giữ của Đồng Minh T đã gửi toàn bộ đi giám định tại phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC, không hoàn lại mẫu vật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 mảnh nilon màu xanh. Xét đây là vật chứng và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - LC là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Trong vụ án này: Theo Đồng Minh T khai nhận thì nguồn gốc Heroine của T bị thu giữ là nhờ Hồ Văn T mua hộ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng Hồ Văn T không thừa nhận bán ma túy cho T. Ngoài lời khai của T không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với T.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đồng Minh T là gia đình thuộc hộ nghèo. Vì vậy, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và đề nghị của bị cáo. Do đó, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đồng Minh T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đồng Minh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đồng Minh T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2025.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Đồng Minh T để đảm bảo cho việc thi hành án.

[3] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy một phong bì niêm phong của Công an tỉnh LC, bên trong phong bì có: 01 mảnh nilon màu xanh. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định của Đồng Minh T thu giữ ngày 02/6/2025.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công tỉnh LC và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- LC).

[5] Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đồng Minh T.

[6] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh LC;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh LC;

- Cơ quan CSĐT CA tỉnh LC;

- Cơ quan THAHS CA tỉnh LC;

- Trại tạm giam CA tỉnh LC;

- VKSND khu vực 1 - LC;

- THADS tỉnh LC;

- Phòng Hồ sơ CA tỉnh LC;

- Bị cáo;

- Lưu HSVA.

Phạm Thị Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Nga

Cỡ chữ