vanban.org

Bản án 29/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 07 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 15/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Minh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BA
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST
Ngày: 15/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Mạnh Cường

2. Bà Vương Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Kim Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Bằng - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Vũ Minh T - sinh ngày 23/6/1983 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT: Khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở hiện nay: Khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Văn M (đã chết). Con bà: Vũ Thị Q – SN 1950, hiện ở Khu F, xã H, huyện T. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt).

- Người bị hại: Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1960 (Đã chết);

Địa chỉ: Khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện bị hại:

+ Chị Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1987 (Có mặt);

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Đinh M1, sinh năm 1988, địa chỉ: Khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Nguyễn Đinh M1, sinh năm 1988 (Có mặt);

Địa chỉ: Khu G, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Lê Hồng B, sinh năm 1968 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

+ Anh Vũ Văn T2, sinh năm 1977 (Có mặt);

Địa chỉ: Xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

- Nhân chứng: Anh Phùng Văn C, sinh năm 1992 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 07/11/2024, Vũ Minh T, sinh năm 1983, trú tại khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ sử dụng điện thoại di động của Thả nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J2 gắn sim số 0339201484 điện đến số điện thoại của ông Lê Hồng B, sinh năm 1968, ở khu F, xã H. Thấy ông B nghe máy, T hỏi ông B có ở nhà không để T mua rượu, mang đồ ăn vào nấu uống rượu cùng nhau; ông B đồng ý. Thả đi ra vườn của gia đình hái khoảng 10 (mười) quả khế chua, 05 (năm) quả chuối xanh đựng vào một túi ni lông rồi Thả vào nhà lấy 03 (ba) khúc cá mè có sẵn trong tủ lạnh đựng vào một túi ni lông khác và lấy 01 (một) vỏ chai nhựa màu trắng, loại chai 01 lít. Thả để khế, chuối, cá mè, chai nhựa vào 01 (một) bao tải xác rắn màu trắng, dùng dây chun buộc bao tải này ở đèo hàng sau yên xe đạp rồi một mình điều khiển xe đạp mang theo số đồ vật trên đi từ nhà ở của Thả đến quán bán hàng tạp hóa của bà Vũ Thị V, sinh năm 1952 ở khu F, xã H để mua rượu. Khi đến nơi T vào gặp và mua được của bà V 01 lít rượu trắng hết số tiền là 20.000đ. Sau đó T cho chai rượu vào trong bao tải, điều khiển xe đạp đi đến nhà ông B.

Khi đến nhà ông Lê Hồng B, T thấy ông B một mình đang ngồi ở bộ bàn ghế gỗ kê tại gian phòng khách xem tivi. Thả dựng xe đạp ở sân đi vào gian bếp nhà ông B sử dụng khế, chuối, cá mè nấu canh chua. Sau khoảng 15 – 20 phút, khi canh cá đã chín, T mang nồi canh cá ra để ở mặt bàn nơi ông B đang ngồi. Thả lấy chai rượu mua được, sử dụng hai chiếc cốc nhựa màu đen dung tích mỗi cốc khoảng 200ml trên mặt bàn rót rượu rồi T và ông B ngồi ở bộ bàn ghế gỗ ăn canh cá, uống rượu cùng nhau. Khi mỗi người uống gần hết một cốc rượu thì thấy ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1960, trú tại khu G, xã H một mình điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 19K7 – 6255 mang theo một can rượu màu vàng, loại can 05 lít đến. Ông T1 dựng xe mô tô ở sân, xách can rượu vào để trên mặt bàn nơi T và ông B đang ngồi uống rượu rồi ông T1 đi xuống gian bếp lấy bát đũa, dùng cốc nhựa trên mặt bàn ngồi ở bộ bàn ghế gỗ ăn canh cá, uống rượu cùng T và ông B. Sau khi mỗi người uống hết gần 03 cốc rượu thì T không uống rượu nữa mà đứng dậy ra về. Thấy vậy ông T1 điều khiển xe mô tô của ông T1 chở T đi về hướng nhà ở của T. Khi ông T1 chở T đi đến gần khu vực cổng nhà bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1954 thuộc khu F, xã H (cách nhà ông B khoảng 200m); do đã uống rượu nên ông T1 điều khiển xe mô tô đi loạng choạng rồi tự đổ, ngã xuống mặt đường; việc tự ngã xe ông T1 và T không bị thương tích gì. Sau đó ông T1 và T tự dựng xe mô tô lên, T bảo ông T1 chiều quay lại nhà ông B uống rượu tiếp; ông T1 tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T về nhà. Đến nhà T, ông T1 dựng xe mô tô tại sân rồi cùng T vào nhà nằm ngủ.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/11/2024, T thấy anh Phùng Văn C, sinh năm 1992, trú tại khu F, xã H, điện đến số điện thoại của T nhờ ra Km số 76 + 500 đường C - Lào Cai thuộc xã H khênh hộ anh C ít đồ, T đồng ý. Lúc này ông T1 cũng tỉnh ngủ nên T đã nhờ và được ông T1 điều khiển xe mô tô chở vào nhà ông B để lấy xe đạp. Khi đến nhà ông B, ông T1 dựng xe mô tô ở sân rồi đi vào nhà ông B, lúc này T thấy ông B đang nằm trên chiếc ghế kê tại gian phòng khách, T lấy và điều khiển xe đạp đi ra đường C - Lào Cai để khênh đồ cho anh C. Đến nơi T dựng xe đứng đợi ở ven đường thuộc khu F, xã H; khi thấy anh C cùng anh Trương Thành C1, sinh năm 1985, trú tại khu F, xã H đi xe ô tô khách về đến Km số 76 + 500 đường C - Lào Cai. Thả đi lên đường cao tốc rồi cùng anh C, anh C1 khênh giường, đệm cho anh C từ đường cao tốc xuống ven đường thuộc khu F, xã H, sau đó T điều khiển xe đạp về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T thấy anh C1 điện thoại cho T mời đến nhà anh C ăn cơm, T đồng ý rồi một mình điều khiển xe đạp đến nhà anh C ngồi ăn cơm, uống bia, rượu cùng anh C, anh C1 và người nhà của anh C.

Đến khoảng 19 giờ 00 ngày 07/11/2024, sau khi ăn cơm, uống bia, rượu tại nhà Chuyên xong, T một mình điều khiển xe đạp đi về hướng nhà ông B. Khi đến nơi thấy ông B và ông T1 đang ngồi ở bộ bàn ghế gỗ kê tại gian phòng khách ăn canh Thả nấu buổi trưa và uống rượu cùng nhau, lúc này ông B ngồi trên chiếc ghế dài, ông T1 ngồi ở chiếc ghế đơn đối diện với ông B. Thấy vậy, T dựng xe đạp ở sân rồi vào ngồi ở chiếc ghế dài cạnh ông B uống rượu, nói chuyện cùng ông B và ông T1. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi đang uống rượu Thả thấy ông T1 tự đứng dậy đi lại ngồi ở thành chiếc giường ngủ gia đình ông B kê tại gian phòng khách, cởi chiếc quần dài đang mặc trên người rồi ông T1 vắt quần ở thành chiếc ghế mà ông T1 ngồi trước đó. Sau đó ông T1 dùng tay múa thể hiện mình là người có võ, vừa múa võ ông T1 vừa đi về hướng Thả, khi ông T1 đến gần chỗ T ngồi, ông T1 dùng tay phải túm vào cổ áo Thả lôi kéo T đứng dậy. T và ông T1 lôi kéo nhau ra hiên giáp sân bê tông nhà ông B, tay phải của ông T1 vẫn túm vào cổ áo của T, T dùng tay trái nắm vào cổ tay phải của ông T1 mục đích để giằng tay của ông T1 ra nhưng không được. Do thấy tay trái ông T1 tát về phía mặt bên phải mình nên T dơ tay phải ra nắm vào cẳng tay trái của ông T1. Lúc này ông T1 và T đều đứng trên hiên hè, ông T1 mặt nhìn vào nhà ông B, còn T đứng đối diện với ông T1. Thả giằng được tay phải của ông T1 ra khỏi cổ áo thì lúc này chân trái ông T1 đứng trên hiên, chân phải đứng ở mặt bậc lên xuống tiếp giáp sân bê tông. Do bực tức T bỏ tay phải ra khỏi cẳng tay trái của ông T1 rồi T dùng tay phải đẩy vào vùng ngực của ông T1 nhằm tách ông T1 ra, đồng thời T bỏ tay trái của mình khỏi cổ tay phải của ông T1 làm ông T1 ngã ngửa đầu đập xuống nền sân bê tông. Sau khi thấy ông T1 bị ngã, T đi vào ngồi ở bộ bàn ghế gỗ tại gian phòng khách, được một lúc sau T thấy ông T1 tự đứng dậy đi vào nằm lên chiếc giường kê tại gian phòng khách nhà ông B ngủ, nên T điều khiển xe đạp về nhà thì thấy anh C điều khiển xe đạp điện đến. Sau đó anh Chuyên chở T đến quán bán bia và nước giải khát “Hai Cây Thông” của gia đình anh Hoàng Xuân H1, sinh năm 1992, trú tại khu G, xã H uống bia cùng nhau. Sau khi uống bia cùng anh C xong, Thả được anh Chuyên C2 về nhà, khi về nhà T sử dụng điện thoại di động của mình điện cho ông B hai cuộc để hỏi ông B xem ông T1 đã về nhà hay chưa thì được ông B nói cho biết “ông T1 vẫn đang nằm yên, chắc đang ngủ say, không thấy cựa quậy”. Nghĩ rằng ông T1 đã uống nhiều rượu nên T bảo ông B để ý ông T1 có gì thì gọi điện cho T rồi T lên giường nằm ngủ. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 08/11/2024, T tiếp tục điện cho ông B để hỏi tình hình của ông T1 nhưng không thấy ông B nghe máy. Bản thân ông T1 nằm ở giường ngủ được khoảng 30 phút sau thì ông B gọi dậy, ông T1 tự đi ra hiên nhà ông B nằm rồi ông B đóng cửa đi vào giường kê tại gian phòng khách nằm ngủ. Đến khoảng 07 giờ 00 ngày 08/11/2024, khi ông B ngủ dậy phát hiện ông T1 đã tử vong trong tư thế nằm ngửa tại hiên nhà, nên ông B báo cáo sự việc trên đến ông Nguyễn Quý M2, là Trưởng khu F, xã H.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tổ chức khám nghiệm hiện trường, trưng cầu khám nghiệm tử thi Nguyễn Anh T1 xác định: Vùng giữa chẩm có vết tụ máu, xây sát da rải rác trên diện (6,5 x 6)cm; mặt trên vai bên trái có vết xây sát da kích thước (0,5 x 0,5)cm; mặt trên ngoài vai bên phải có vết xây sát da kích thước (0,5 x 0,5)cm; mặt trước khủy tay bên trái có vết xây sát da kích thước (01 x 01)cm. Rạch mở da đầu thấy: Tụ máu tổ chức dưới da đầu vùng thái dương trái, trán đỉnh, chẩm kích thước (20 x 15)cm. Tụ máu, ngấm máu cân cơ thái dương hai bên. Vỡ xương chẩm lan sang hai bên, lan vào đường khớp xương trên diện (25 x 5)cm. Tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh chẩm kích thước (8 x 5)cm. Tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não. Xuất huyết dưới nhện nhiều vị trí hai bán cầu đại não, tiểu não. Dập não vùng trán bên phải kích thước (6 x 5)cm. Nhiều điểm chảy máu trong nhu mô não.

Tại Kết luận giám định tử thi số 1612/KLGĐTT-PC09 ngày 04/12/2024, Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

+ Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Anh T1 là do chấn thương sọ não.

+ Cơ chế hình thành thương tích là do tác động với vật tày cứng gây nên.

- Tại Kết luận giám định hóa pháp số 2623/PY-XNĐH ngày 20/11/2024, V1 kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy, chất độc trong mẫu phủ tạng của Nguyễn Anh T1.

- Tại Kết luận giám định số 1582/KL-KTHS ngày 22/11/2024, phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Nguyễn Anh T1, sinh năm 1960, HKTT khu 7, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định không có cồn (E).

- Tại Kết luận giám định mô bệnh học số 472/2024/KLMBH-PY ngày 02/12/2024, V1 kết luận: Hình ảnh phù não và xuất huyết trong mô não vùng cầu não và tiểu não, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu não và hình ảnh các tạng sung huyết.

Tại Cơ quan điều tra Vũ Minh T đã khai nhận do bực tức vì bị ông T1 dùng tay phải túm vào cổ áo và dùng tay trái tát về hướng mặt của T, nên đã có hành vi dùng tay đẩy vào ngực làm ông Nguyễn Anh T1 ngã ngửa xuống nền sân nhà ông B như đã nêu trên. Khi dùng tay đẩy vào ngực ông T1, T nhận thức được vị trí ông T1 đứng là nguy hiểm.

Cơ quan điều tra tổ chức thực nghiệm điều tra để Vũ Minh T mô tả, diễn lại sự việc xác định: Vị trí của ông Nguyễn Anh T1 trước khi bị Vũ Minh T đẩy ngã, ông T1 và T đứng đối diện cách nhau 75cm, khoảng cách giữa hiên nhà ông B với bậc lên xuống sân là 14cm, khoảng cách giữa mặt bậc lên xuống với nền sân bê tông là 20cm. Khi T dùng tay phải đẩy vào ngực ông T1, cánh tay và cẳng tay phải của T cong tạo thành một góc 140 độ, rồi T dùng lực đẩy thẳng tay phải về phía trước mặt làm ông T1 ngã ngửa, đầu ông T1 đập xuống nền sân bê tông. Lời khai của Vũ Minh T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu thập được.

Tại Cơ quan điều tra ông Lê Hồng B trình bày: Ba chúng tôi ngồi uống rượu được khoảng hơn 01 tiếng, lúc này tôi đã uống 02 cốc rượu, nhưng bản thân vẫn tỉnh táo thì thấy anh T1 ngồi ở chiếc ghế hai tay khua khoắng và nói anh T1 là người có võ; anh T nói với anh T1 “Thích đánh nhau à, võ vè gì, ông cáu ông đập cho cái bây giờ”. Sau đó anh T1 đứng dậy đi về phía anh T dùng tay phải túm vào cổ áo anh T, rồi anh T và anh T1 du đẩy nhau ra hiên nhà tôi, anh T đứng quay nhìn ra sân, anh T1 đứng đối diện anh T; anh T dùng tay đẩy vào ngực anh T1 ngã xuống sân nhà tôi. Anh T1 ngã như thế nào tôi không rõ cụ thể do tôi ngồi ở trong nhà.

Vũ Minh T không thừa nhận có nói với với ông T1 “Thích đánh nhau à, võ vè gì, ông cáu ông đập cho cái bây giờ”. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa ông Lê Hồng B và Vũ Minh T. Nhưng kết quả T vẫn không thừa nhận nội dung câu nói trên.

* Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS-TB ngày 10 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba truy tố bị cáo Vũ Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

a) Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134 ; Điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Vũ Minh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 15/11/2024

b) Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS.

- Trả lại cho anh Nguyễn Đình M3 (đại diện bị hại):

+ 01 (một) chiếc xe mô tô vỏ xe phía ngoài của hãng H2, màu trắng, nâu, số khung NJ11-0200095896, số máy LC152FMH00095848, xe gắn biển kiểm soát 19K7 – 6255 đã qua sử dụng.

+ 01 (một) can nhựa màu vàng, nắp đậy màu đỏ, dung tích 05 lít, bên trong can chứa 1,3 lít rượu trắng.

+ 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu sơn đỏ.

+ 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay màu bạc, mặt bằng kính, loại SENDAS, đồng hồ cũ, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc quần bò, loại quần dài màu xanh, mặt trong ống quần trái bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 (một) chiếc thắt lưng, dây lưng bằng da màu đen, mặt khóa bằng kim loại màu xám vàng.

+ 01 (một) chiếc áo phông cộc tay, cổ bẻ, màu xanh da trời, áo có kích thước (0,72 x 0,51)m.

+ 01 (một) đôi dép lê, loại dép nhựa xốp màu xanh, mặt trên quai mỗi chiếc dép có chữ “TIKTOK” màu trắng, mỗi dép có kích thước như nhau (0,27 x 0,1 x 0,06)m.

+ 01 (một) chiếc ví giả da màu đen, kích thước (0,18 x 0,1 x 0,03)m.

+ Tiền ngân hàng N 26.000đ (hai mươi sáu nghìn đồng). Các đồ vật, tài sản nêu trên đều là của ông Nguyễn Anh T1.

- Trả lại cho anh Vũ Văn T2: 01 (một) chiếc xe đạp, loại xe khung thấp, màu sơn đen xen lẫn màu đỏ, trên khung xe có chữ “GREEN BIKIE VIET NHAT” màu trắng, xe đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Minh T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng gold, số kiểu máy SM- G532G/DS, điện thoại gắn sim số 0339201484, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, phần kính màn hình bị nứt vỡ phức tạp.

- Trả lại cho ông Lê Hồng B:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, số I: 355079085961915; số Imei 2: 355080085961913, điện thoại gắn sim số 0869.811.083 và đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt vỡ.

+ 01 (một) chiếc ga đệm giường bằng vải màu đỏ, đen, in hình con gấu màu vàng, ga có kích thước (2,0 x 1,6 x 0,5)m, ga bám dính một số vết dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 (một) chiếc chăn vải màu kem trứng, vàng cát, chăn có kích thước (1,8 x 1,5)m, bề mặt chăn bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 (một) chiếc gối vải, vỏ gối màu trắng tím có hoa văn đan xen, gối có kích thước (0,65 x 0,4 x 0,08)m.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, loại chai 05 chân, cao 0,23m; đường kính thân chai chỗ rộng nhất 0,1m, dung tích 1,0 lít, bên trong chai chứa 0,4 lít rượu trắng.

+ 01 (một) chiếc quần dài bằng vải, kiểu quần rằn ri bộ đội, màu xanh, vàng, nâu, đen, quần có kích thước (100 x 50)cm, mặt trước và mặt sau hai ống quần có bám dính vữa xi măng khô và sơn màu trắng, chân ống quần bên trái bị rách vải dài 23cm, quần đã qua sử dụng.

+ 01 ( một) chiếc áo khoác, màu xanh lơ nhạt, mặt trong cổ áo có mác vải màu đen in chữ “Cheete MADE IN VIET NAM” màu trắng, kích thước áo (60 x 46) cm, áo có 02 túi phía trước hai bên, áo đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc áo phông cộc tay, cổ bé, màu tím than, áo có kích thước (70 x 64)cm, mặt trước ngực áo trái có chữ “PHUTHO” màu trắng, áo đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc mũ vải, loại mũ le, màu vàng, nâu, đen, mũ có kích thước (27 x 17 x 9)cm, mũ đã qua sử dụng. Các đồ vật, tài sản nêu trên đều là của Vũ Minh T không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng.

c) Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận việc thỏa thuận bồi thường giữa gia đình BC T và đại diện gia đình ông T1 với tổng số tiền là 70 triệu đồng.

d) Về án phí: Buộc BC phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của phápluật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an huyện T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Đã thực hiện đúng thẩm quyền; đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều nhất trí và không ai có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Chứng cứ buộc tội:

Khoảng 20h30 ngày 07/11/2024, tại gia đình ông Lê Hồng B ở khu F, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; sau khi bị ông Nguyễn Anh T1 dùng tay phải túm cổ áo lôi kéo và dùng tay trái tát về hướng mặt của Vũ Minh T để thể hiện mình là người có võ, đây là hành vi trái phát luật, làm cho tinh thần của T bị kích động, nhưng chưa thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do bực tức, sau khi giằng được tay phải của ông T1 ra khỏi cổ áo của mình, Vũ Minh T bỏ tay phải ra khỏi cẳng tay trái của ông T1 và dùng tay phải đẩy vào vùng ngực ông T1, làm ông T1 ngã ngửa đập đầu xuống nền sân bê tông. Hậu quả ông Nguyễn Anh T1 bị chấn thương sọ não dẫn đến tử vong.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra; Lời khai người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; Hiện trường vụ án và các tài liệu khác lập lưu trong hồ sơ.

- Tại Kết luận giám định tử thi số 1612/KLGĐTT-PC09 ngày 04/12/2024, Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

+ Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Anh T1 là do chấn thương sọ não.

+ Cơ chế hình thành thương tích là do tác động với vật tày cứng gây nên.

- Tại Kết luận giám định hóa pháp số 2623/PY-XNĐH ngày 20/11/2024, V1 kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy, chất độc trong mẫu phủ tạng của Nguyễn Anh T1.

- Tại Kết luận giám định số 1582/KL-KTHS ngày 22/11/2024, phòng K Công an tỉnh P kết luận: Trong mẫu máu của tử thi Nguyễn Anh T1, sinh năm 1960, HKTT khu 7, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định không có cồn (E).

- Tại Kết luận giám định mô bệnh học số 472/2024/KLMBH-PY ngày 02/12/2024, V1 kết luận: Hình ảnh phù não và xuất huyết trong mô não vùng cầu não và tiểu não, xuất huyết dưới nhện hai bán cầu não và hình ảnh các tạng sung huyết.

Xét thấy bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng cố tình xâm hại. Sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội, không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, đã dùng tay tác động vào vùng ngực ông T1 đang đứng trong tư thế nguy hiểm nhằm thoát khỏi sự khống chế của ông T1, tuy không có mục đích xâm hại sức khỏe, tính mạng người khác, nhưng T phải ý thức được hành vi của mình có thể dẫn đến thương tích cho ông T1, do vậy đây là hành vi cố ý, hậu quả: Ông T1 bị chấn thương sọ não khi bị T đẩy ngã ngửa đập đầu xuống đất dẫn đến tử vong nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm

a) Làm chết người...

Về tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét thấy tính chất vụ án là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an xã hội trong khu dân cư. Vì vậy, đưa bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đó là “Bị cáo đã bồi thường cho người bị hại; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của gia đình bị hại. Xét thấy mối quan hệ giữa bị cáo và người bị hại là bạn bè, trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, người bị hại đã có hành vi trêu đùa khống chế đối với bị cáo dẫn đến ảnh hưởng tâm lý của bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo và các quy định của pháp luật, đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù là phù hợp. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này, đối với hành vi của ông Lê Hồng B không có lời nói, hành động nào tác động đến ông Nguyễn Anh T1; không biết ông T1 bị chấn thương sọ não. Vì vậy không xem xét xử lý ông B về hành vi không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã nhờ người thân bồi thuờg cho gia đình bị hại.

Ngày 15/5/2025 đại diện gia đình bị cáo anh Vũ Văn T2 là anh trai của bị cáo Vũ Minh T tự nguyện nhận bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo đối với đại diện gia đình bị hại là anh Nguyễn Đinh M1 tổng số tiền là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) tiền mai táng phí (Bao gồm cả số tiền 20.000.000 đồng ngày 29/12/2024 mẹ bị cáo là bà Vũ Thị Q đã bồi thường cho gia đình bị hại). Nay anh T2 tiếp tục bồi thường thiệt hại nốt số tiền còn lại là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho anh M1, hình thức bồi thường bằng tiền mặt. Đay là số tiền bồi thường mai táng phí. Sau khi nhận đủ số tiền trên, anh M1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác và không có khiếu nại gì thêm. Xác nhận anh T2 đã bồi thường xong cho gia đình anh M1. Anh M1 và anh T2 đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận trên. Xét thấy là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với: 01 (một) chiếc xe mô tô vỏ xe phía ngoài của hãng H2, màu trắng, nâu, số khung NJ11-0200095896, số máy LC152FMH00095848, xe gắn biển kiểm soát 19K7 – 6255 đã qua sử dụng; 01 (một) can nhựa màu vàng, nắp đậy màu đỏ, dung tích 05 lít, bên trong can chứa 1,3 lít rượu trắng; 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu sơn đỏ; 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay màu bạc, mặt bằng kính, loại SENDAS, đồng hồ cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần bò, loại quần dài màu xanh, mặt trong ống quần trái bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 (một) chiếc thắt lưng, dây lưng bằng da màu đen, mặt khóa bằng kim loại màu xám vàng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay, cổ bẻ, màu xanh da trời, áo có kích thước (0,72 x 0,51)m; 01 (một) đôi dép lê, loại dép nhựa xốp màu xanh, mặt trên quai mỗi chiếc dép có chữ “TIKTOK” màu trắng, mỗi dép có kích thước như nhau (0,27 x 0,1 x 0,06)m; 01 (một) chiếc ví giả da màu đen, kích thước (0,18 x 0,1 x 0,03)m; Tiền ngân hàng N 26.000đ (hai mươi sáu nghìn đồng). Các đồ vật, tài sản nêu trên đều là của ông Nguyễn Anh T1, anh Ngyễn Đinh M4 đại diện bị hại có yêu cầu nhận lại đồ vật, tài sản trên, nên cần trả lại cho anh Nguyễn Đinh M1 là đại diện của bị hại là phù hợp.

- Đối với 01 (một) chiếc xe đạp, loại xe khung nữ, màu sơn đen xen lẫn màu đỏ, trên khung xe có chữ “GREEN BIKIE VIET NHAT” màu trắng, xe đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Minh T là tài sản Thả mượn của anh T2 nên cần phải trả lại cho anh Vũ Văn T2 là phù hợp.

- Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng gold, số kiểu máy SM- G532G/DS, điện thoại gắn sim số 0339201484, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, phần kính màn hình bị nứt vỡ phức tạp của Vũ Minh T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Vũ Minh T là phù hợp.

- Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, số I: 355079085961915; số Imei 2: 355080085961913, điện thoại gắn sim số 0869.811.083 và đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt vỡ; 01 (một) chiếc ga đệm giường bằng vải màu đỏ, đen, in hình con gấu màu vàng, ga có kích thước (2,0 x 1,6 x 0,5)m, ga bám dính một số vết dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 (một) chiếc chăn vải màu kem trứng, vàng cát, chăn có kích thước (1,8 x 1,5)m, bề mặt chăn bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ đã khô; 01 (một) chiếc gối vải, vỏ gối màu trắng tím có hoa văn đan xen, gối có kích thước (0,65 x 0,4 x 0,08)m. Các đồ vật, tài sản trên là của ông Lê Hồng B không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho ông Lê Hồng B là phù hợp.

- Đối với: 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, loại chai 05 chân, cao 0,23m; đường kính thân chai chỗ rộng nhất 0,1m, dung tích 1,0 lít, bên trong chai chứa 0,4 lít rượu trắng; 01 (một) chiếc quần dài bằng vải, kiểu quần rằn ri bộ đội, màu xanh, vàng, nâu, đen, quần có kích thước (100 x 50)cm, mặt trước và mặt sau hai ống quần có bám dính vữa xi măng khô và sơn màu trắng, chân ống quần bên trái bị rách vải dài 23cm, quần đã qua sử dụng; 01 ( một) chiếc áo khoác, màu xanh lơ nhạt, mặt trong cổ áo có mác vải màu đen in chữ “Cheete MADE IN VIET NAM” màu trắng, kích thước áo (60 x 46) cm, áo có 02 túi phía trước hai bên, áo đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo phông cộc tay, cổ bé, màu tím than, áo có kích thước (70 x 64)cm, mặt trước ngực áo trái có chữ “PHUTHO” màu trắng, áo đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc mũ vải, loại mũ le, màu vàng, nâu, đen, mũ có kích thước (27 x 17 x 9)cm, mũ đã qua sử dụng. Các đồ vật, tài sản nêu trên đều là của Vũ Minh T, bị cáo không yêu cầu nhận lại tài sản, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

2. Tuyên bố bị cáo Vũ Minh T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

3. Xử phạt bị cáo Vũ Minh T 07 (B1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 15/11/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015:

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp pháp của bị hại chị Nguyễn Thị Diễm H về việc anh Vũ Văn T2 và bà Vũ Thị Q hỗ trợ bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo đối với đại diện hợp pháp của bị hại là anh Nguyễn Đinh M1 tổng số tiền là 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng), đã giao nhận xong.

5. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS:

- Trả lại cho anh Nguyễn Đinh M1 (đại diện bị hại):

+ 01 (một) chiếc xe mô tô vỏ xe phía ngoài của hãng H2, màu trắng, nâu, số khung NJ11-0200095896, số máy LC152FMH00095848, xe gắn biển kiểm soát 19K7 – 6255 đã qua sử dụng.

+ 01 (một) can nhựa màu vàng, nắp đậy màu đỏ, dung tích 05 lít, bên trong can chứa 1,3 lít rượu trắng.

+ 01 (một) chiếc mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu sơn đỏ.

+ 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay màu bạc, mặt bằng kính, loại SENDAS, đồng hồ cũ, đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc quần bò, loại quần dài màu xanh, mặt trong ống quần trái bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 (một) chiếc thắt lưng, dây lưng bằng da màu đen, mặt khóa bằng kim loại màu xám vàng.

+ 01 (một) chiếc áo phông cộc tay, cổ bẻ, màu xanh da trời, áo có kích thước (0,72 x 0,51)m.

+ 01 (một) đôi dép lê, loại dép nhựa xốp màu xanh, mặt trên quai mỗi chiếc dép có chữ “TIKTOK” màu trắng, mỗi dép có kích thước như nhau (0,27 x 0,1 x 0,06)m.

+ 01 (một) chiếc ví giả da màu đen, kích thước (0,18 x 0,1 x 0,03)m.

+ Tiền ngân hàng N 26.000đ (hai mươi sáu nghìn đồng). Các đồ vật, tài sản nêu trên đều là của ông Nguyễn Anh T1.

- Trả lại cho anh Vũ Văn T2: 01 (một) chiếc xe đạp, loại xe khung thấp, màu sơn đen xen lẫn màu đỏ, trên khung xe có chữ “GREEN BIKIE VIET NHAT” màu trắng, xe đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Minh T: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, màu vàng gold, số kiểu máy SM- G532G/DS, điện thoại gắn sim số 0339201484, đã qua sử dụng, hoạt động bình thường, phần kính màn hình bị nứt vỡ phức tạp.

- Trả lại cho ông Lê Hồng B:

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, số I: 355079085961915; số Imei 2: 355080085961913, điện thoại gắn sim số 0869.811.083 và đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt vỡ.

+ 01 (một) chiếc ga đệm giường bằng vải màu đỏ, đen, in hình con gấu màu vàng, ga có kích thước (2,0 x 1,6 x 0,5)m, ga bám dính một số vết dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 (một) chiếc chăn vải màu kem trứng, vàng cát, chăn có kích thước (1,8 x 1,5)m, bề mặt chăn bám dính nhiều chất dịch màu nâu đỏ đã khô.

+ 01 (một) chiếc gối vải, vỏ gối màu trắng tím có hoa văn đan xen, gối có kích thước (0,65 x 0,4 x 0,08)m.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp màu trắng, loại chai 05 chân, cao 0,23m; đường kính thân chai chỗ rộng nhất 0,1m, dung tích 1,0 lít, bên trong chai chứa 0,4 lít rượu trắng.

+ 01 (một) chiếc quần dài bằng vải, kiểu quần rằn ri bộ đội, màu xanh, vàng, nâu, đen, quần có kích thước (100 x 50)cm, mặt trước và mặt sau hai ống quần có bám dính vữa xi măng khô và sơn màu trắng, chân ống quần bên trái bị rách vải dài 23cm, quần đã qua sử dụng.

+ 01 ( một) chiếc áo khoác, màu xanh lơ nhạt, mặt trong cổ áo có mác vải màu đen in chữ “Cheete MADE IN VIET NAM” màu trắng, kích thước áo (60 x 46) cm, áo có 02 túi phía trước hai bên, áo đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc áo phông cộc tay, cổ bé, màu tím than, áo có kích thước (70 x 64)cm, mặt trước ngực áo trái có chữ “PHUTHO” màu trắng, áo đã qua sử dụng.

+ 01 (một) chiếc mũ vải, loại mũ le, màu vàng, nâu, đen, mũ có kích thước (27 x 17 x 9)cm, mũ đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/4/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và Cơ quan Chi cục THADS huyện T, tỉnh Phú Thọ.

6. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.

Cỡ chữ