vanban.org

Bản án 29/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Trần Bảo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Bảo A 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Trần Bảo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HS-ST
Ngày: 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Ánh Sáng

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đinh Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 21/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sở thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, thư ký tòa án, bị hại. Điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai gồm: Bị cáo, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vuï aùn hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Trần Bảo A, Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, tại Đồng Nai.

Nơi đăng ký thường trú: ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: thợ xây; Trình độ học vấn: 9/12.

Con ông Trần Văn T, sinh năm 1930 và bà Dương Thị M, sinh năm 1944.

Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không

Tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 26/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (Bản án số 147/2019/HS-ST) ngày 08/6/2020, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 378/GCN) đã nộp án phí hình sự sơ thẩm (tại biên lai số 1574 ngày 07/01/2020).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện L.

- Bị cáo: Trần Bảo A, sinh năm 1987, tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi đăng ký thường trú: ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: Anh Võ Văn Đ, sinh năm 1954.

Địa chỉ thường trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở hiện nay: ấp B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Hồng T1, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Bảo A không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo đã 01 lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản đã xóa án tích.

Ngày 06/11/2024 bị cáo thuê phòng tại nhà nghỉ P thuộc xã A, huyện L để nghỉ do thiếu tiền tiêu xài và trả tiền phòng nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định lúc 13 giờ 00 phút ngày 08/11/2024 bị cáo đi bộ đến hẻm H thuộc ấp B, xã A thì phát hiện có 01 xe mô tô biển số 60F1-475.64 nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu trắng xám của anh Võ Văn Đ (sinh năm 1954, cư trú: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai) đang để trước sân nhà, xe cắm sẵn chìa khóa không có người trông coi nên bị cáo lén lút đi vào nổ máy điều khiển xe mô tô trên bỏ chạy, trên đường đi đến khu vực xã B, huyện L thì bị cáo ghé tiệm phế liệu của anh Lê Hồng T1 (sinh năm 1978, cư trú tại ấp H, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai) hỏi bán cho anh T1 với giá 1.500.000 đồng. Lúc này, thấy bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên anh T1 gọi điện trình báo cho Công an xã B đến yêu cầu bị cáo về làm việc thì bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi như nêu trên. Sau đó, lực lượng Công an xã B đã bàn giao bị cáo cùng vật chứng cho Công an xã A lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an huyện L để điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Tại kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 114/KL-HĐĐGTS ngày 12/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 xe mô tô, biển số 60F1-475.64, nhãn hiệu Yamaha, màu trắng xám (xe đã qua sử dụng trị giá 4.500.000 đồng).

Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSLT ngày 02/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Bảo A: Xử phạt bị cáo từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về vật chứng và xử lý vật chứng: xe mô tô, biển số 60F1-475.64, nhãn hiệu Yamaha, màu trắng xám, qua xác minh do Nguyễn Thảo N, cư trú: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên sở hữu, qua xác minh không tìm thấy nơi cư trú của N nên không tiến hành mời làm việc được. Anh Võ Văn Đ khai mua xe trên của 01 người (không nhớ rõ lai lịch, địa chỉ) và không làm thủ tục sang tên nên cơ quan điều tra công an huyện L đã trả lại tài sản cho bị hại là anh Võ Văn Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Văn Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử và đại diện Viện kiểm sát đề nghị vẫn tiến hành xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các chứng cứ khác được thu thập và quá trình tranh tụng tại phiên toà có đủ cơ sở để xác định:

Bị cáo Trần Bảo A không có nghề nghiệp ổn định đã 01 lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” đã được xóa án tích. Lúc 13 giờ 00 phút ngày 08/11/2024 tại ấp B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Trần Bảo A đã có hành vi lén lút trộm cắp của anh Võ Văn Đ 01 xe mô tô biển số 60 F1-475.64, nhãn hiệu Yamaha, màu trắng xám có trị giá 4.500.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ khẩn cấp cùng vật chứng.

. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân đã bị kết án về tội “Trộm cắp” và đã được xóa án tích.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Bảo A thành khẩn khai báo, ăn năn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có công với cách mạng (cha của bị cáo tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được hưởng chế độ trợ cấp một lần). Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân: Cần thiết phải áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về vật chứng và xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 60F1-475.64, nhãn hiệu Yamaha, màu trắng xám, qua xác minh do Nguyễn Thảo N, cư trú: phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đứng tên sở hữu, qua xác minh không tìm thấy nơi cư trú của N nên không tiến hành mời làm việc được. Anh Võ Văn Đ khai mua xe trên của 01 người (không nhớ rõ lai lịch, địa chỉ) và không làm thủ tục sang tên nên cơ quan điều tra công an huyện L đã trả lại tài sản cho bị hại là anh Võ Văn Đ.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại anh Võ Văn Đ đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Trần Bảo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Bảo A 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Trần Bảo A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ