- Tranh chấp gì? án hình sự — "BỊ CÁO NGUYỄN VĂN H. - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi,…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HS-PT Ngày 23/7/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Thanh;
Các Thẩm phán:
Ông Đinh Ngọc Huân;
Ông Nguyễn Nam Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang, Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên cao cấp.
- Công chức Tòa án tại điểm cầu thành phần: Ông: Phạm Tuấn Nam – Công chức Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần: Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 779/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Hưng Yên; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Khu B, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Nay là khu B, phường V, tỉnh Bắc Ninh); nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị L; có vợ thứ nhất Nguyễn Thị A1 (đã ly hôn), vợ thứ hai Nguyễn Thị N1; bị cáo có 03 con sinh năm 2009, 2014 và 2024; tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến ngày 23/01/2025 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án này còn có bị cáo Lê Đình T1 có đơn kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt vào ngày 09/5/2025. Tuy nhiên, ngày 17/5/2025, bị cáo đã có văn bản rút toàn bộ nội dung kháng cáo, có xác nhận của Ban Giám thị Trại Tạm giam - Công an tỉnh Lạng Sơn, trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Do đó, ngày 14/7/2025 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội đã ra Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm số 01/2025/QĐ-PT đối với bị cáo Lê Đình T1. Ngoài ra còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/10/2024 tại khu vực K Quốc lộ A thuộc địa phận xã Y, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, lực lượng chức năng Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang Lê Đình T1 điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 99A - 406.70 chở 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép; khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/10/2024, tại khu vực K Quốc lộ A thuộc địa phận thôn M, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, lực lượng chức năng Công an tỉnh L phát hiện, bắt giữ Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 99A - 336.34 chở 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép; khoảng 04 giờ 35 phút ngày 06/10/2024 lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ Nịnh Văn T2 điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 99A - 340.57 chở 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái.
Quá trình điều tra xác định, tham gia tổ chức cho 10 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép nói trên, ngoài Nguyễn Văn H, Lê Đình T1 và Nịnh Văn T2 còn có Lưu Mạnh T3 và Hoàng Công V. Hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau:
Nguyễn Văn H, Hoàng Công V và Nịnh Văn T2 là lái xe dịch vụ Taxi. Khoảng đầu tháng 10 năm 2024 Hoàng Công V quen biết người đàn ông có tài khoản Wechat là “T4 a thố ls” nhưng không rõ tên tuổi địa chỉ của người này. “T4 a thố ls” liên lạc qua ứng dụng Wechat thuê Hoàng Công V đến thành phố L đón một số người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa về Hà Nội, tiền công là 4.000.000 đồng/chuyến, Hoàng Công V đồng ý. Khoảng 15 giờ ngày 05-10-2024, người đàn ông tên P liên lạc với Lưu Mạnh T3 qua ứng dụng Zalo, thông báo cho Lưu Mạnh T3: Khoảng 23 giờ ngày 05-10-2024 đến khu vực cây xăng H1, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đón 06 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa đến thành phố L, tiền công là 1.000.000 đồng/người.
Khoảng 17 giờ ngày 05-10-2024, Hoàng Công V nhận được tin nhắn qua ứng dụng Wechat của người đàn ông có tài khoản “Thảo a thố ls” thông báo Hoàng Công V lên thành phố L đón khách Trung Quốc nhập cảnh trái phép để đưa về đường N, Hà Nội; Hoàng Công V trả lời có việc bận nên không đi đón được và sẽ bảo người khác đi đón thay.
Sau đó, Hoàng Công V gọi điện qua ứng dụng zalo bảo Nguyễn Văn H lên thành phố L đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa về Hà Nội, với tiền công là 3.000.000 đồng/chuyến; Nguyễn Văn H đồng ý. Hoàng Công V chuyển khoản cho Nguyễn Văn H 1.000.000 đồng chi phí đi đường; thông báo cho người sử dụng tài khoản Wechat “Thảo a thố ls” biết và gửi số điện thoại số 0972.549.987 của Nguyễn Văn H cho “Thảo a thố ls”.
Nguyễn Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 99A - 336.34 từ Bắc Ninh lên thành phố L. Khoảng 21 giờ 00 phút có người đàn ông sử dụng số 0869.437.757 gọi điện hướng dẫn Nguyễn Văn H di chuyển đến cây xăng số A thuộc xã M, thành phố L chờ và gửi số điện thoại 037.810.9858 của Lưu Mạnh T3 để liên hệ đón khách.
Khoảng 23 giờ, Lưu Mạnh T3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A - 113.08 đến khu vực cây xăng H1. Tại đây, Lưu Mạnh T3 đón 03 lượt, mỗi lượt 02 người Trung Quốc đã nhập cảnh trái phép, rồi lần lượt đưa họ về nhà Lưu Mạnh T3. Khoảng 01 giờ ngày 06-10-2024, Nguyễn Văn H và Lưu Mạnh T3 liên lạc, thống nhất địa điểm và tiến hành giao nhận 04 người Trung Quốc tại đường B, thành phố L. Khoảng 02 giờ 30 phút Nguyễn Văn H điều khiển ô tô biển kiểm soát 99A - 336.34 chở 04 người Trung Quốc đến K Quốc lộ A thuộc địa phận thôn M, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng bắt giữ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 06/5/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù về tội: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án; được trừ đi thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/10/2024 đến ngày 23/01/2025.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lưu Mạnh T3, Hoàng Công V, Nịnh Văn T2, Lê Đình T1; quyết định áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 20/5/2025, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và bổ sung đề nghị được giảm nhẹ hình phạt; bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, ngoài 03 con đẻ, bị cáo còn có trách nhiệm nuôi thêm 01 con riêng của người vợ thứ 2; bị cáo là lao động chính trong gia đình.
- Kiểm sát viên sau khi phân tích các tình tiết của vụ án về nhân thân, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 03 - 06 tháng tù, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H trong thời hạn, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của tỉnh Lạng Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vì mục đích vụ lợi, ngày 05/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn H là lái xe Taxi đã nhận lời với Hoàng Công V đến thành phố L đón 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa về Hà Nội, với tiền công là 3.000.000 đồng/chuyến; bị cáo đã được Hoàng Công V chuyển khoản cho 1.000.000 đồng. Khoảng 01 giờ ngày 06/10/2024, Nguyễn Văn H và Lưu Mạnh T3 liên lạc về địa điểm giao nhận 04 người nhập cảnh trái phép tại đường B, thành phố L. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 06/10/2024 Nguyễn Văn H điều khiển ô tô biển kiểm soát 99A - 336.34 chở 04 người Trung Quốc đến K Quốc lộ A thuộc địa phận thôn M, xã M, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị bắt giữ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của N2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án bị cáo Nguyễn Văn H về tội: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo về việc đề nghị được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo:
Bị cáo Nguyễn Văn H không có tiền án, tiền sự, tham gia vụ án với vai trò là đồng phạm giúp sức cho Hoàng Công V (bị cáo trong vụ án) trong việc đưa 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã tác động gia đình nộp lại số tiền 1.000.000 đồng do phạm tội mà có. Bị cáo là người lao động, nhất thời phạm tội, có 03 con nhỏ chưa thành niên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo với mức án tương ứng với Lê Đình T1 cũng là bị cáo trong vụ án này, cùng có hành vi chở 04 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam để đảm bảo sự công bằng và tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Việc buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù là cần thiết, không chỉ để giáo dục, cải tạo riêng với bị cáo mà còn nhằm giáo dục người khác ý thức tuân thủ pháp luật, bảo đảm an ninh an toàn, trật tự xã hội trong bối cảnh công dân Việt Nam và công dân các nước xuất cảnh, nhập cảnh trái phép sinh sống, làm việc bất hợp pháp ngày càng gia tăng. Do đó kháng cáo đề nghị được hưởng án treo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2025/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo như sau:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt đầu chấp hành án; được trừ đi thời hạn bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-10-2024 đến ngày 23-01-2025.
2. Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1 TANDTC; - VCT&KSXXPT tại Hà Nội; - TAND tỉnh Lạng Sơn (02 bản); - Cơ quan THAHS-Công an tỉnh Lạng Sơn; - Cục THADS tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo (Theo địa chỉ); - Lưu HS, PHCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hải Thanh |