vanban.org

Bản án 29/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 04/07/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Ông XIAO Y được ly hôn với bà Lê Thị N

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông, bà xác định không có. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông XIAO Y phải chịu 300.000 đồng, vào ngày 08/4/2025, ông XIAO Y đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Biên lai thu số 0000196) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XIAO Y - Lê Thị N"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ông XIAO Y được ly hôn với bà Lê Thị N
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04 - 7 - 2025
(V/v tranh chấp xin ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thành Công

Bà Nguyễn Thu Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Duy Linh là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông XIAO Y. Sinh năm: 16/5/1991 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: số 85, thôn Tiêu Trang, thị trấn Khang Trang, thành phố Lâm T, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

Bị đơn: Bà Lê Thị N. Sinh năm: 15/03/1996 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Tân Điền A, xã Phú T, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông XIAO Y trình bày: Ông và bà Lê Thị N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Phú T, tỉnh Cà Mau vào ngày 22/01/2025. Cả hai không có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn, sau khi kết hôn do bất đồng ngôn ngữ nên thường xảy ra mâu thuẫn, từ đó dẫn đến đời sống hôn nhân không đạt được hạnh phúc như mong muốn.

Ông xét thấy, quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên ông yêu cầu xin ly hôn với bà Lê Thị N. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Bản tự khai và đơn xin vắng mặt cùng ngày 05/5/2025, bà Lê Thị N trình bày: Bà và ông XIAO Y tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phú T vào ngày 22/01/2025. Sau khi kết hôn, cả hai không hợp nhau, bất đồng về ngôn ngữ, thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn, cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn. Nay bà đồng ý theo yêu cầu của ông XIAO Y về việc xin ly hôn, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà và ông XIAO Y được ly hôn. Về con chung, tài sản chung và nợ chung đều không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đang sinh sống và làm việc xa, nên bà xin Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự tuân thủ các quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng

Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn, nguyên đơn hiện đang sinh sống tại Trung Quốc, bị đơn cư trú tại huyện Phú T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 28, 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý đơn khởi kiện xin ly hôn, ông XIAO Y và bà Lê Thị N đều có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân

Hôn nhân của ông XIAO Y và bà Lê Thị N được xác lập trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Phú T, tỉnh Cà Mau. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp. Nay ông, bà có mâu thuẫn trong hôn nhân nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông, bà được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, ông XIAO Y vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với bà N. Đối với bà Ncó gửi cho Tòa án văn bản đề 05/5/2025 thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn với ông XIAO Y phù hợp với quy định.

Xét về điều kiện thực tế, hiện nay giữa ông XIAO Y và bà N phát sinh mâu thuẫn, tình cảm không còn và không còn giữ liên lạc với nhau. Điều đó cho thấy hôn nhân của ông, bà không còn sự gắn kết chia sẻ, quan tâm chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho ông, bà ly hôn là phù hợp.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông, bà đều xác định không có.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông XIAO Y phải chịu theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 153, 469, 470, 478 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Ông XIAO Y được ly hôn với bà Lê Thị N

2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông, bà xác định không có.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông XIAO Y phải chịu 300.000 đồng, vào ngày 08/4/2025, ông XIAO Y đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Biên lai thu số 0000196) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.

4. Bà Lê Thị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án, ông XIAO Y có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Thời điểm kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ