- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Thu Huyền - Huỳnh Minh Mẫn"
- Tòa quyết gì? 1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Thu H và anh Huỳnh Minh M.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ -ST Ngày: 14/8/2025 (V/v Tranh chấp ly hôn) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tịnh và ông Nguyễn Minh Hoàng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mộng Nghi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 26/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1997
Nơi cư trú: ấp 3, xã Gành H, tỉnh Cà Mau
Địa chỉ hiện nay: số 226/7 khóm Nhà M, phường Hiệp T, tỉnh Cà Mau.
2/. Bị đơn: Anh Huỳnh Minh M, sinh năm 1997
Địa chỉ: ấp 3, xã Gành H, tỉnh Cà Mau).
(Chị H, anh M có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 13/6/2025, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Huỳnh Thị Thu H và anh Huỳnh Minh M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị chung sống với nhau vào năm 2018, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành H (nay là xã Gành H) và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, khiến cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng không hành phúc. Anh chị đã sống ly thân khoảng tháng 5/2024 cho đến nay không còn quan tâm nhau, cũng tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay anh chị xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, không còn khả năng hàn gắn nên chị H yêu cầu ly hôn, anh M cũng đồng ý.
Về con chung: Chị H và anh M thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Huỳnh Hiền M, sinh ngày 15/10/2018, hiện nay đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H và anh M thống nhất thỏa thuận giao con cho chị H nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị H và anh M thống nhất thỏa thuận anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Minh mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi cháu Minh tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh M thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chị H và anh M kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được. Chị H và anh M xác định vợ chồng không hàn gắn được và không thể tiếp tục chung sống với nhau nên thống nhất ly hôn, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh M.
Về con chung: Chị H và anh M thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Huỳnh Hiền M, sinh ngày 15/10/2018, hiện nay đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H và anh M thống nhất thỏa thuận giao cháu Minh cho chị H nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng: Chị H và anh M thống nhất thỏa thuận anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Minh mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi cháu Minh tròn 18 tuổi đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh M xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H tự nguyện nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị Thu H có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Huỳnh Minh M. Anh M có địa chỉ cư trú tại ấp 3, xã Gành Hào. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 8 - Cà Mau.
Chị H và anh M có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Chị H và anh M chung sống với nhau vào năm 2018, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành Hào (nay là xã Gành Hào) cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị H và anh M, Hội đồng xét xử thấy rằng mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Nhưng trong thời gian chung sống chị H và anh M xãy ra mâu thuẫn, hiện nay đã sống ly thân không còn quan tâm nhau cũng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên chị H yêu cầu ly hôn thì anh M cũng đồng ý. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị H và anh M thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Huỳnh Hiền M, sinh ngày 15/10/2018, hiện nay đang sống với chị H. Khi ly hôn chị H và anh M thống nhất thỏa thuận giao cháu Minh cho chị H nuôi dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng: Chị H và anh M thống nhất thỏa thuận anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Minh mỗi tháng 3.000.000 đồng, cho đến khi cháu Minh tròn 18 tuổi, việc thỏa thuận của anh chị trước khi Tòa án mở phiên tòa và yêu cầu Tòa án ghi nhận trong bản án nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh M xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình: Chị H nộp 75.000 đồng, anh M nộp 75.000 đồng, án phí cấp dưỡng anh M nộp 150.000 đồng. Chị H tự nguyện nộp thay số tiền trên cho anh M nên ghi nhận.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1/. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Thu H và anh Huỳnh Minh M.
2/. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Hiền M, sinh ngày 15/10/2018 cho chị Huỳnh Thị Thu H tiếp tục nuôi dưỡng.
Anh Huỳnh Minh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng: Buộc anh Huỳnh Minh M có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Huỳnh Hiền M 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Minh tròn 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 8/2025.
3/. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
4/. Về án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng: Chị Huỳnh Thị Thu H tự nguyện nộp 300.000 đồng, chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ngày 10 tháng 7 năm 2025 theo biên lai thu số 0011565 được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Huỳnh Thị Thu H và anh Huỳnh Minh M được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực 8 – Cà Mau; - Phòng THADS khu vực 8 – Cà Mau; - UBND xã Gành H; - Các đương sự; - Lưu HS vụ án; | Thạch Thị Ngọc Bích |