- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: NGUYỄN THANH Đ; BĐ: LÊ THỊ LỆ T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/5/2025 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Xuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Phượng;
2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Duy - Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Diễm Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Trong các ngày 18/4/2025, 09/5/2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HNGĐ ngày 11/02/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/4/2025 và quyết định hoãn số 65/2025/QĐST-DS ngày 18/4/2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Bà Lê Thị Lệ T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Có đơn xin vắng mặt: Ông Nguyễn Thanh Đ.
Vắng mặt không lý do: Bà Lê Thị Lệ T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/11/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Đ trình bày:
Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh Đ và bà Lê Thị Lệ T đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận số 17 ngày 24/3/2004. Sau khi kết hôn, ông Đ và bà T sống chung hạnh phúc. Về sau, ông Đ và bà T thường xuyên gây gỗ, mâu thuẫn kéo dài do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không có tiếng nói chung. Từ tháng 5/2024, ông Đ và bà T sống ly thân đến nay, lâu dần tình cảm vợ chồng không còn nên ông Đ yêu cầu ly hôn với bà T.
Về con chung: ông Đ và bà T có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng P, sinh ngày 02/3/1997 và Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 27/02/2004. Hai con chung đã đủ tuổi trưởng thành, đủ năng lực hành vi dân sự nên ông Đ không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Ý kiến của bị đơn bà Lê Thị Lệ T: Bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng, được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên họp nhưng bà T vắng mặt tại phiên họp không có lý do và cũng không cung cấp văn bản ý kiến cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án dân sự cũng như tại phiên tòa Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn là ông Đ chấp hành pháp luật đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn bà T vắng mặt không lý do đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Đ, cho ông Đ được ly hôn với bà T, về con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết, về tài sản chung và nợ chung không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Thanh Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Lê Thị Lệ T cho nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự xác định tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật là: Tranh chấp ly hôn.
Về thẩm quyền: Bị đơn bà Lê Thị Lệ T đang sinh sống tại địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, đúng với công văn số 16/CV-CAX ngày 25/3/2025 của Công an xã T cung cấp thông tin qua xác minh thực tế, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Ông Đ, bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng ông Đ có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 10/3/2025 và bà T vắng mặt không lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nội dung vụ án:
Về hôn nhân:
Ông Đ và bà T đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận số 17 ngày 24/3/2004 đúng theo quy định, là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng trong cuộc sống hôn nhân đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên yêu cầu ly hôn với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về mâu thuẫn: Giữa ông Đ và bà T là có phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân. Ông Đ cho rằng sau khi kết hôn, ông Đ và bà T sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, cuộc sống hôn nhân căng thẳng. Từ tháng 5/2024 đến nay, ông Đ và bà T sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Do mâu thuẫn kéo dài nên tình cảm vợ chồng không còn. Hôn nhân của ông Đ và bà T đã không đảm bảo được tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (viết tắt Luật HNGĐ) quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. ; 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”
- Về khả năng hàn gắn: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã hòa giải, động viên để ông Đ hàn gắn lại tình cảm, đoàn tụ nhưng ông Đ cương quyết yêu cầu ly hôn. Đối với bà T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng để biết nội dung vụ án nhưng bà T không có mặt theo thông báo và không có văn bản ý kiến thể hiện ý chí hàn gắn lại tình cảm với ông Đ. Cho nên, hôn nhân giữa ông Đ và bà T không giải quyết được mâu thuẫn, không có khả năng hàn gắn tình cảm.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân của ông Đ và bà T đã phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài và thực sự trầm trọng, không còn giữ được tình nghĩa vợ chồng, không có khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Thanh Đ đối với bà Lê Thị Lệ T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật HNGĐ.
Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng P, sinh ngày 02/3/1997 và Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 27/02/2004 đã đủ tuổi trưởng thành, ông Đ xác định con chung không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Bà T không có ý kiến về nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đảm bảo quyền tự quyết và định đoạt của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, bà T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đảm bảo quyền tự quyết và định đoạt của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho ông Đ được ly hôn với bà T, về con chung tên Hoàng P, Thành Đ1 đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết, về tài sản chung và nợ chung không xem xét giải quyết là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Ông Đ phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về quyền kháng cáo: Ông Đ và bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 19, 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh Đ.
1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh Đ được ly hôn với bà Lê Thị Lệ T.
Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 24/3/2004 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng P, sinh ngày 02/3/1997 và Nguyễn Thành Đ1, sinh ngày 27/02/2004 là người thành niên và có đủ năng lực hành vi dân sự nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Thanh Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005477 ngày 11/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
5. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Thanh Đ và bà Lê Thị Lệ T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện L; - Chi cục THADS huyện L; - UBND xã H, h. L, tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT (kx). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Xuyến |