- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Lê Thanh B được ly hôn chị Cao Thị Ng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/9/2025. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Tâm
Ông Hoàng Ngọc Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát khu vực 4 - Thanh Hóa tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Trang, Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa( cơ sở 2)xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXX-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Thanh B, sinh năm 1983. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Cao Thị Ng, sinh năm 1990. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2025, bản tự khai ngày 13/8/2025, nguyên đơn anh Lê Thanh B thể hiện:
Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng tự nguyện kết hôn với nhau năm 2013 được UBND xã Hoằng Phúc( nay là xã Hoằng H), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau bình thường một thời gian thì phát sinh mẫu thuẫn, nguyên nhân do chị Ng nợ nần bên ngoài mà anh B không được biết, anh B đã hai lần làm đơn xin ly hôn nhưng vì con nên anh đã rút đơn. Nhưng đến nay, chị Ng không sữa chữa được ngày càng nợ nần không kiểm soát được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh B đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Cao Thị Ng.
Về con: Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng có 02(hai) con chung cháu tên là Lê Mai Phương, sinh ngày 21/11/2013; Lê Hữu Nhật Dương, sinh ngày 27/6/2018. Từ khi vợ chồng sống ly thân các cháu ở với anh Bh. Ly hô anh B Có nguyện vọng nuôi hai con và không yêu cầu cấp dưỡng. Hiện nay anh B là lao động tự do mức thu nhập của anh mỗi tháng 12 triệu đồng; Về tài sản và công nợ: anh Nguyễn Thanh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Cao Thị Ng: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng chị Ng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho ông Cao Văn Sen (bố đẻ chị Ng) và ông Sen cam đoan có trách nhiệm giao thông báo lại cho chị Ng.
Tại lời khai của ông Cao Văn Sen ngày 13/8/2025 thể hiện:
Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng Phúc( nay là xã Hoằng Hóa), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2013. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau bình thường, không có va chạm gì. Nay anh B làm đơn xin ly hôn chị Ng, chị Ng đề nghị Tòa án gải quyết theo quy định của pháp luật. Tôi( Sen) có trách nhiệm thông báo cho chị Ng khi chị đi làm về( chị Ng cũng đã biết việc anh B làm đơn xin ly hôn chị), ông Sen cam đoan giao tận tay cho chị Ng những văn bản tố tụng của Tòa án.
Về con chung: Vợ chồng chị Cao Thị Ng và anh Lê Thanh B có 02 con chung cháu tên là Lê Mai Phương, sinh ngày 21/11/2013; Lê Hữu Nhật Dương, sinh ngày 27/6/2018. Từ khi vợ chồng anh B, chị Ng sống ly thân các cháu ở với anh B. Nay ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại lời khai của cháu Lê Mai Phương và cháu Lê Hữu Nhật Dương: Các cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn anh Lê Thanh B đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn chị Cao Thị Ng chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Thanh B được ly hôn chị Cao Thị Ng.
Về con chung: Công nhận Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng có 02 con chung cháu tên là Lê Mai Phương, sinh ngày 21/11/2013; Lê Hữu Nhật Dương, sinh ngày 27/6/2018.Từ khi vợ chồng sống ly thân các cháu ở với anh B Nay ly hôn, anh B có nguyện vọng nuôi con nên đề nghị giao cháu Phương và cháu Dương cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 anh Bình phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Thanh B khởi kiện xin ly hôn chị Cao Thị Ng và xin được nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định anh Lê Thanh B là nguyên đơn, chị Cao Thị Ng là bị đơn.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Cao Thị Ng có địa chỉ tại xã Hoằng Th, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thanh B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ pháp luật: Anh Lê Thanh B khởi kiện xin ly hôn chị Cao Thị Ng và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, chính quyền địa phương xã H xác nhận: Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng tự nguyện kết hôn được UBND xã (Hoằng Ph) nay là xã Hoằng Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2019, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân, mâu thuẫn địa phương không nắm bắt được. Vợ chồng anh chị có 02 con chung cháu tên là Lê Mai Phương, sinh ngày 21/11/2013; Lê Hữu Nhật Dương, sinh ngày 27/6/2018.
Tại phiên tòa ngày 09/9/2025, bị đơn chị Cao Thị Ng vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự nên HĐXX hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, chị Ng vắng mặt không có lý do, anh B có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng kết hôn với nhau năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng Phúc( nay là xã Hoằng Hóa), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp.
Vợ chồng anh chị sống với nhau hòa thuận một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, không thể hòa giải được. Anh B có nguyện vọng xin được ly hôn chị Nga. Chị Ng mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng không đến làm việc theo giấy triệu tập thể hiện chị bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và anh B không có mong muốn đoàn tụ. Do đó, HĐXX xét thấy tình cảm của anh, chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của anh Lê Thanh B cho anh được ly hôn với chị Cao Thị Ng là phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh chị.
Về con chung: Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng có 02 con chung cháu tên là Lê Mai Phương, sinh ngày 21/11/2013; Lê Hữu Nhật Dương, sinh ngày 27/6/2018.
Xét yêu cầu nuôi con của anh Lê Thanh B: Xét thấy, yêu cầu nuôi con của anh B là phù hợp vì từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Phương và cháu Dương ở cùng với anh B, anh B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, không nên sáo trộn cuộc sống sinh hoạt của các cháu nên tiếp tục giao cháu Phương và cháu Dương cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về tài sản: Anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn là anh Lê Thanh B phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 1 mục 2 Luật số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51,56,57,58, 81,82,83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Anh Lê Thanh B được ly hôn chị Cao Thị Ng.
Về con chung: Công nhận cháu Lê Mai Phương, sinh ngày 21/11/2013; Lê Hữu Nhật Dương, sinh ngày 27/6/2018 là con chung của anh Lê Thanh B và chị Cao Thị Ng.
Giao cháu Lê Mai Phương; Lê Hữu Nhật Dương cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật.
Chị Cao Thị Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Anh B và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu chị Ng lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chị Ng.
Về án phí: Anh Lê Thanh B phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001785 ngày 30 tháng 7 năm 2025 của Chi cục thi hành án tỉnh Thanh Hóa. Anh B đã nộp đủ số tiền án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn anh Lê Thanh B, bị đơn chị Cao Thị Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND khu vực 4 - Thanh Hóa; - Chi cục THA tỉnh Thanh Hóa; -UBND xã H; - Các đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Phương |