vanban.org

Bản án 29/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cù Thị Lệ N là được ly hôn với ông Lê Thành P.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Không có con chung. * Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Cù Thị Lệ Nguyên và Lê Thành Phát"
  • Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cù Thị Lệ N là được ly hôn với ông Lê Thành P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27/8/2025.
Về việc: “Tranh chấp về ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - AN GIANG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Châu Thanh Nguyên;

2. Bà Vanh Si Tha.

* Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 27 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 14 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 167/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/7/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cù Thị Lệ N, sinh năm 1985; (CCCD: xxxxxxxxxxxx)

Nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã C, An Giang.

2. Bị đơn: Ông Lê Thành P, sinh năm 1978; (CCCD: xxxxxxxxxxxx)

Nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã C, An Giang.

(vắng mặt bị đơn ông Lê Thành P; đã tống đạt hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Cù Thị Lệ N và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Bà Cù Thị Lệ N và ông Lê Thành P kết hôn vào đầu năm 2023, hôn nhân xây dựng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã C, An Giang (giấy kết hôn số 67 ngày 30/3/2023). Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp và hay cãi nhau nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, đã sống ly thân từ tháng 02/2025 cho đến nay. Do sống chung thời gian ngắn nên vợ chồng chưa có con chung.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Cù Thị Lệ N yêu cầu được ly hôn với ông Lê Thành P; về con chung không có; về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

* Về phía bị đơn ông Lê Thành P thì: Toà án đã nhiều lần gửi thông báo đến gia đình nhằm tạo điều kiện hoà giải đoàn tụ và hàn gắn quan hệ vợ chồng giữa hai người nhưng ông Lê Thành P đều vắng mặt không lý do. Qua chứng cứ thu thập được thì ông Lê Thành P có nơi đăng ký thường trú tại tổ A, ấp T, xã C, tỉnh An Giang (địa chỉ cũ là tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang); hiện tại ông Lê Thành P vẫn còn ở địa phương, giấy tờ của Toà án giao thì ông Lê Thành P và gia đình có nhận nhưng vẫn không có mặt nên Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng để mở phiên tòa xét xử theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân khu vực 14 - An Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Thành P vắng mặt lần thứ hai, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Cù Thị Lệ N đã thừa nhận có sống chung như vợ chồng với ông Lê Thành P từ năm 2023 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật; nay do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không phù hợp nên bà Cù Thị Lệ N xin được ly hôn với ông Lê Thành P. Xét thấy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cuộc sống hôn nhân vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa bà N và ông P đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn; đồng thời, quan hệ rạn nứt, Tòa án đã mời ông bà để tạo điều kiện hòa giải, hàn gắn, đoàn tụ nhưng ông Lê Thành P đều không có mặt. Như vậy, quan hệ vợ chồng giữa ông P, bà N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân giữa hai người không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cần chấp nhận yêu cầu của bà Cù Thị Lệ N là được ly hôn với ông Lê Thành P.

Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Bà Cù Thị Lệ N thừa nhận sống chung với ông Lê Thành P chỉ trong thời gian ngắn nên chưa có con chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do bà Cù Thị Lệ N có yêu cầu ly hôn với ông Lê Thành P nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

* Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Cù Thị Lệ N là được ly hôn với ông Lê Thành P.

* Về quan hệ con cái, cấp dưỡng: Không có con chung.

* Về quan hệ tài sản, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Bà Cù Thị Lệ N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm, đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ theo Biên lai thu số 0013072 ngày 05/5/2025 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, An Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 14 - An Giang); được khấu trừ nên bà Cù Thị Lệ N đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng ông Lê Thành P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ