vanban.org

Bản án 29/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Văn H. Về nuôi con chung: Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồ Nguyễn Vĩnh B, sinh ngày 29/3/2008; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 07/02/2014, hiện các cháu đang ở với chị H. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng- Hồ Văn Hiếu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2025/HNGĐ - ST
Ngày 16 tháng 9 năm 2025
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Thành

2. Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Minh Triều- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Phú Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2025, về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn H, xã L, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Bị đơn: Anh Hồ Văn H, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số nhà 252, đường B, khu phố N, phường L, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, nay là phường L, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị kết hôn với anh Hồ Văn H ngày 11/10/2007, trước khi cưới có được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T nay là xã L. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2012 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi vã không vui vẻ, hạnh phúc. Hai vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại để cùng nhau hàn gắn nhưng vẫn không cải thiện được tình cảm vợ chồng. Chị và anh H đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung: Cháu Hồ Nguyễn Vĩnh B, sinh ngày 29/3/2008; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 07/02/2014. Hiện cả hai cháu đang ở cùng chị H. Ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ, đất canh tác, công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hồ Văn H vắng mặt nhưng trước đó đã trình bày: Về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn thống nhất như chị H trình bày, nay chị H xin ly hôn, anh H nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh và chị H có hai con chung như chị H trình bày. Ly hôn anh nhất trí để chị H tiếp tục nuôi dưỡng các con, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ, công sức: Anh không đề nghị giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát khu vực 11 phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định; người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; 56; 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 31/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Chị H được ly hôn anh Hồ Văn H; về nuôi con chung: Giao cháu Hồ Nguyễn Vĩnh B, sinh ngày 29/3/2008; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 07/02/2014 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Hồ Văn H, do vậy đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh H có hộ khẩu thường trú tại: Đường B, khu phố N, phường L, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nay là phương L, thành phố Hồ Chí Minh nhưng chị H và anh H đã có Biên bản thỏa thuận chọn Tòa án nhân dân khu vực 11 là Tòa án giải quyết ly hôn, nên Tòa án nhân dân khu vực 11 thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự vắng mặt của anh H: Quá trình chuẩn bị xét xử Tòa án triệu tập hợp lệ anh H, anh H đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh H theo quy định.

. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị H và anh Hồ Văn H đăng ký kết hôn ngày 11/10/2007, tại Ủy ban nhân dân xã T nay là xã L. Trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H là tự nguyện, hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Xem xét hôn nhân giữa chị H và anh H thấy rằng cuộc sống chung vợ chồng giữa chị H và anh H có rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân như chị H trình bày do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống hàng ngày, thường xuyên cãi vã không vui vẻ, hạnh phúc. Chị và anh H sống ly thân từ năm 2012 đến nay. Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi chị H và anh H đăng ký kết hôn cho biết: Chị H và anh H đăng ký kết hôn tại địa phương sau khi cưới anh H về ở rể tại gia đình chị H, nghe nói chị H và anh H có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau còn mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì chính quyền địa phương không nắm được. Chị H và anh H đã sống ly thân được một thời gian dài. Việc chị H xin ly hôn anh H và các mối quan hệ khác trong vụ án, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị H xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận.

- Về nuôi con chung: Chị H và anh H có 02 con chung: Cháu Hồ Nguyễn Vĩnh B, sinh ngày 29/3/2008; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 07/02/2014, hiện các cháu đang ở với chị H. Ly hôn chị H xin được nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Tòa án tiến hành lấy lời khai cháu B và cháu Á, các cháu B và Á cũng có nguyện vọng muốn được ở với chị H. Phía anh H cũng nhất trí để chị H tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Do đó để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của hai cháu B và Á, cần giao cháu B, cháu Á cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ, công sức lao động, đất nông nghiệp: Chị H và anh H không đề nghị giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 phù hợp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 31/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hồ Văn H.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồ Nguyễn Vĩnh B, sinh ngày 29/3/2008; cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 07/02/2014, hiện các cháu đang ở với chị H. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ, công sức lao động, đất nông nghiệp: Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện nộp 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007739 ngày 26/6/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Phú Thọ). Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ