- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Phương Thảo - Vũ Văn Trình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Phương Th, cho chị Th được ly hôn anh Vũ Văn Tr.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 09/5/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Châu
2. Bà Trịnh Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 269/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 24/4/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Phương Th, sinh năm 2002
Địa chỉ: Khu phố Ph, thị trấn Lam S, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Anh Vũ Văn Tr, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn A, xã Nga V, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 20/11/2024, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn là chị Hoàng Phương Th trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn Tr kết hôn vào ngày 06 tháng 3 năm 2023, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Lam S, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cãi vã, anh Tr thường xuyên đe dọa chị và gia đình nhà chị, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, mệt mỏi, không còn yêu thương nhau. Mâu thuẫn đỉnh điểm nhất là vào khoảng cuối năm 2023 nên vợ chồng đã sống ly thân nhau, không cùng ở chung với nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đến nay, tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, không còn hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Tr.
- Về con chung: Chị và anh Vũ Văn Tr 01 con chung là Vũ Hoàng Q, sinh ngày 18/9/2024, hiện tại cháu Q đang ở cùng với chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q và yêu cầu anh Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Nếu anh Tr muốn giảm mức cấp dưỡng thì chị cũng đồng ý với mức cấp dưỡng anh Tr đưa ra.
- Về tài sản và nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Vũ Văn Tr: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật nhưng anh Tr cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.
Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chị Th vắng mặt (có đơn xin vắng mặt) và anh Tr vắng mặt không có lý do nên Toà án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Bị đơn anh Vũ Văn Tr mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa vào ngày 24/4/2025. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Th vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng chị vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu. Đối với bị đơn anh Tr được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị Th, anh Tr.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS; Những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chưa thực hiện đầy đủ các quy định của BLTTDS; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Phương Th, cho chị Th được ly hôn anh Tr. Về con: Giao cháu Vũ Hoàng Q, sinh ngày 18/9/2024 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh Tr thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị Th, anh Tr phải chịu án phí DSST theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
* Về nội dung:
. Về hôn nhân: Chị Hoàng Phương Th và anh Vũ Văn Tr kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo chị Th trình bày là do hai vợ chồng thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cãi vã, anh Tr thường xuyên đe dọa chị và gia đình nhà chị, cuộc sống vợ chồng căng thẳng, mệt mỏi, không còn yêu thương nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Th, cho chị Th được ly hôn anh Tr là phù hợp quy định của pháp luật.
. Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Hoàng Q, sinh ngày 18/9/2024, hiện tại cháu Q đang ở cùng với chị Th. Sau ly hôn, chị Th đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q và yêu cầu anh Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Nếu anh Tr muốn giảm mức cấp dưỡng thì chị cũng đồng ý với mức cấp dưỡng anh Tr đưa ra.
Xét nguyện vọng của chị Th về trực tiếp nuôi con: Qua xác minh tại UBND xã Nga V, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa thì cháu Q đang ở cùng chị Th. Do cháu Q còn nhỏ, cần sự chăm sóc từ người mẹ nhiều hơn. Do đó, giao cháu Q cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Tr làm nghề lái xe tại thành phố Thanh Hóa. Tuy nhiên, không xác định được mức thu nhập cụ thể và có ổn định hay không nên HĐXX xét thấy cần buộc anh Tr có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Th với số tiền là 2.000.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 5 năm 2025 cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi là phù hợp.
. Về tài sản và nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị Th phải chịu án phí DSST về ly hôn, anh Tr phải chịu án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Phương Th, cho chị Th được ly hôn anh Vũ Văn Tr.
2. Về con: Giao cháu Vũ Hoàng Q, sinh ngày 18/9/2024 cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Tr thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng nuôi con thực hiện từ tháng 5/2024 cho đến khi cháu Vũ Hoàng Q đủ 18 (Mười tám) tuổi. Anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Hoàng Phương Th phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, ký hiệu BLTU/24, số: 0006442 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị Th đã nộp đủ án phí DSST.
Anh Vũ Văn Tr phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Chị Th, anh Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nga Sơn; - Các đương sự; - Phòng GĐ-KT Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - UBND thị trấn Lam S, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |