- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lò Thị Thu G VÀ Anh Quàng Văn Q"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 29/2025/HNGĐ- ST Ngày: 30/5/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tố Loan. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vì Thị Xôm.
Ông Nông Trung Kiên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên;
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 84/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2025/QĐST- HNGĐ ngày 19/5/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lò Thị Thu G; sinh năm 2005; Địa chỉ: Bản T, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (có mặt tại phiên toà).
2. Bị đơn: Anh Quàng Văn Q; sinh năm 1998; Địa chỉ: Bản T, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2025 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Lò Thị Thu G trình bày:
1. Về hôn nhân: Chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 26/7/2023, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ai ép buộc. Thời gian đầu chung sống vợ chồng có hạnh phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Q đã nhiều lần dùng vũ lực đánh chị G, làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như sức khoẻ. Vì vậy vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, vì vậy chị G đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quàng Văn Q.
2. Về con chung: Chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q có 01 con chung là cháu Quàng Anh P; sinh ngày 27/8/2022. Chị G có nguyện vọng sau khi ly hôn chị sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác.
Về vần đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị G không yêu cầu Toà án giải quyết.
3. Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị G khai không có. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Ngày 14/3/2025 chị Lò Thị Thu G nộp đơn khởi kiện về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với anh Quàng Văn Q có địa chỉ tại: Bản T, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Ngày 02/4/2025 chị G có đơn xin miễn án phí với lý do chị là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn án phí. Cùng ngày Tòa án đã chấp nhận đơn xin miễn án phí của chị G và thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị theo Điều 195 BLTTDS.
Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu ly hôn giữa chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Các vấn đề khác: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Quàng Văn Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh Q vẫn không đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh Q không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Q theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung.
[2.1] Xét về hôn nhân: Chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Như vậy, hôn nhân giữa chị G và anh Q đảm bảo về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình và là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống hai bên luôn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do quan điểm sống bất đồng, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, hiện nay không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, chị G đã chuyển về nhà Bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị G đề nghị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Quàng Văn Q.
Tại Đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân chị G nộp tại Toà án có xác nhận của chính quyền địa phương và tại phiên tòa thể hiện anh chị đã sống ly thân từ lâu. Điều đó chứng tỏ rằng anh chị đã không còn muốn chung sống cùng nhau nữa. Sau khi thụ lý vụ án anh Q không trả lời thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không đến tham gia phiên hòa giải để trình bày quan điểm của mình, điều đó đã thể hiện anh Q chưa thực sự có thiện chí đoàn tụ. Mặt khác, anh chị đã sống ly thân với nhau từ lâu, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy, không có căn cứ để chứng minh rằng cuộc sống chung của anh chị vẫn hòa thuận, hạnh phúc. HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị G và áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, xử cho ly hôn giữa chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q.
[2.2] Xét về con chung: Chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q có 01 con chung là cháu Quàng Anh P; sinh ngày 27/8/2022. Nguyện vọng sau khi ly hôn chị G sẽ là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu A P cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị G không yêu cầu Toà án giải quyết. HĐXX thấy rằng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các giấy tờ nhưng anh Q không tham gia, không có ý kiến phản hồi bằng văn bản cho Toà án về quan điểm của mình, như vậy cho thấy rằng bản thân anh Q đã tự tước bỏ các quyền đó, hiện tại cháu P còn rất nhỏ (chưa đủ 36 tháng tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì giao cho mẹ trực tiếp nuôi…). Vì vậy HĐXX xét thấy chị G mới là người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Anh P; sinh ngày 27/8/2022. HĐXX căn cứ Điều 69 và Điều 81; Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình giao cháu P cho chị G được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Anh Q có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện nuôi con của chị G.
[3] Xét về tài sản: Về tài sản riêng; tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về và diện tích ruộng nương: Chị G khai không có. HĐXX không xem xét.
[4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lò Thị Thu G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên chị G là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, chị G có đơn xin miễn án phí. Vì vậy HĐXX chấp nhận miễn án phí DSST cho chị Lò Thị Thu G.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81 Điều 82, Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lò Thị Thu G và anh Quàng Văn Q
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Quàng Anh P; sinh ngày 27/8/2022 cho chị Lò Thị Thu G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ tuổi thành niên hoặc khi có thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về chia tài sản chung; Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; Nợ lấy về; diện tích ruộng: Không có.
4. Về án phí: Miễn 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lò Thị Thu G.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự chị Lò Thị Thu G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2025).
Anh Quàng Văn Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết bản án./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND HĐB;
- UBND xã Hua Thanh, HĐB, tỉnh ĐB (nơi đky kết hôn);
- Tòa án ND tỉnh ĐB;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP;
Trần Thị Tố Loan THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Tố Loan
| Nơi nhận: - VKSND HĐB; - Các đương sự; - UBND xã Thanh Chăn, HĐB, tỉnh ĐB; - Chi cục THADS HĐB; - Lưu VP; - Tòa án tỉnh ĐB; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẦM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |